Thị trường xuất khẩu gỗ của Việt Nam ngày càng tập trung vào sự bền vững, với 70% giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ được xuất sang thị trường Mỹ. Nhu cầu về gỗ có chứng chỉ bền vững đã trở thành yếu tố cực kỳ quan trọng, không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn là ưu tiên quốc gia. Để hỗ trợ điều này, Cục Lâm Nghiệp Việt Nam đã triển khai “Kế hoạch Phát triển Rừng Trồng Gỗ Lớn Giai đoạn 2024-2030,” nhằm mở rộng sản xuất gỗ bền vững và đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ trong thập kỷ tới.
Các Mục Tiêu Chính Đến Năm 2030:
- Mở Rộng Diện Tích Rừng Trồng Gỗ Lớn: Đến năm 2030, Việt Nam dự kiến đạt 1 triệu ha rừng trồng gỗ lớn, duy trì 500,000 ha hiện có và phát triển thêm 450,000-550,000 ha trong giai đoạn 2024-2030.
- Nâng Cao Năng Suất Rừng Trồng: Năng suất của các loài cây chủ lực như keo và bạch đàn dự kiến đạt trung bình 22 m³/ha/năm vào năm 2030. Sự gia tăng năng suất này dự kiến sẽ giúp thu nhập từ rừng trồng tăng lên gấp 1.5 đến 2 lần so với năm 2020.
Trong nửa đầu năm 2024, Việt Nam đã khai thác 9.9 triệu m³ gỗ rừng trồng có chứng chỉ bền vững, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Sản lượng khai thác trong cả năm 2024 dự báo đạt khoảng 24 triệu m³. Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc tích tụ đất lâm nghiệp để sản xuất gỗ hàng hóa, xây dựng chuỗi giá trị bao gồm trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ rừng. Tỉnh Thanh Hóa, nơi có diện tích rừng lớn nhất cả nước, đặt mục tiêu nâng diện tích vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng lên 125,000 ha vào năm 2025, trong đó bổ sung thêm 25,000 ha rừng trồng gỗ và 10 ha rừng tre được cấp chứng chỉ FSC.

Chuyển Dịch Sang Sản Phẩm Giá Trị Gia Tăng
Công cuộc chuyển dịch sang sản phẩm có giá trị cao thực chất diễn ra từ năm 2021 theo nghị quyết của chính phủ. Tuy nhiên, sau 3 năm chuyển đổi, mọi thứ mới bắt đầu rõ ràng hơn. Quyết định số 523 ban hành ngày 1/4 năm 2021 về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển nhanh và bền vững nghành công nghiệp chế biến gỗ phục vụ xuất khẩu.
Mục tiêu cụ thể:
- Giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ USD vào năm 2025, trong đó kim nghạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 18.5 tỷ USD; 25 tỷ USD vào năm 2030 trong đó kim nghạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt trên 20.4 tỷ USD.
- Trên 80% cơ sở chế biến, bảo quản gỗ đạt trình độ và năng lực công nghệ sản xuất tiên tiến
- 100% gỗ, sản phẩm gỗ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước được sử dụng từ nguồn gỗ hợp pháp, gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững.
Để cụ thể hóa mục tiêu này. Nhà nước cũng nỗ lực hỗ trợ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng như:
- Hình thành 5 khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp chế biến gỗ và sản xuất vật liệu phụ trợ.
- Xây dựng 1 trung tâm triển lãm đồ gỗ quốc gia tầm cỡ quốc tế
- Đầu tư phát triển nghành công nghiệp hỗ trợ. Ưu tiên phát triển các nguyên liệu phụ trợ keo dán gỗ, các chất sơn phủ, trang trí bề mặt thân thiện mội trường, phát triển dịch vụ logistic.
Theo chính sách của nhà nước, Việt Nam ưu tiên phát triển sản xuất chế biến các nhóm sản phẩm chính sau:
- Sản phẩm đồ gỗ nội thất: Sản phẩm bàn ghế, giường tủ, tủ bếp, bàn trang điểm, giá kệ sách, các loại ván sàn.
- Sản phẩm gỗ ngoài trời: Ghế xích đu, cầu trượt, bàn ghế, ghế băng, dù che nắng
- Sản phẩm gỗ ván nhân tạo: Ván ghép thanh, ván dán, ván dăm, ván MDF.
- Nhóm các sản phẩm gỗ kết hợp với các loại vật liệu khác làm tăng tính thẩm mỹ, độ bền chắc, tiết kiệm gỗ: Song mây, tre, trúc, nhựa, kim loại, vải, da.
- Nhóm các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ: Bàn ghế, giường tủ, tranh sơn mài, tranh gỗ, các loại tượng bằng gỗ, sản phẩm lưu niệm.
Có thể thấy nhà nước và doanh nghiệp Việt Nam đang thực hiện rất chuẩn xác và kĩ lưỡng với các quyết định đề ra. Năm 2025 sẽ là năm đầu tiên xem xét lại các hành động và chính sách từ quyết định số 523, để tiếp tục làm tốt các mục tiêu đề ra, ngành lâm nghiệp tập trung hỗ trợ phát triển các nguồn nguyên liệu có chứng chỉ bền vững, phù hợp quy chuẩn quốc tế và giảm đến mức thấp nhất tác động của biến đổi khí hậu.
Gia Tăng Sản Xuất Đồ Nội Thất
Đồ nội thất bằng gỗ là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng này chiếm gần 40% tổng trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Từ năm 2019 trở về trước, xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm bàn, ghế, tủ văn phòng. Tuy nhiên từ năm 2020 trở về sau, đồ gỗ nội thất tăng trưởng mạnh với mức tăng từ 25% -30%/ năm, đặc biệt là nhóm nội thất phòng khách và nhà bếp. Xuất khẩu đồ gỗ nội thất nhà bếp tăng từ 800 triệu USD trong giai đoạn 2019 -2020 lên tới 1.2M USD trong năm 2023.
Trong năm 2023, theo nghiên cứu công bố bởi tổ chức nghiên cứu tư vấn về thị trường nội thất và ngành công nghiệp CSIL, VIệt Nam tăng đến 7 hạng để trở thành nhà sản xuất đồ nội thất lớn thứ 6 thế giới. Việc tăng đến 7 hạng chỉ trong chưa đến 10 năm chứng tỏ sự quyết tâm của toàn bộ doanh nghiệp cũng như chính phủ Việt Nam về việc đổi mới, gia tăng sản xuất đồ nội thất.
Nhóm | Xuất khẩu năm 2023 (nghìn USD) | Tỷ Trọng toàn nghành (%) |
Đồ nội thất phòng khách và phòng ăn | 2,230,692 | 16.52% |
Đồ nội thất phòng ngủ | 1,634,366 | 12.11% |
Đồ nội thất nhà bếp | 1,172,816 | 8.69% |
Đồ nội thất văn phòng | 268,152 | 1.99% |
Bình Dương, tỉnh chiếm tới 50% tổng sản lượng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam cũng đưa ra đề án nhằm đẩy mạnh công nghiệp chế biến gỗ theo hướng tập trung vào nhóm sản phẩm nội thất có nguồn gốc rõ ràng. Với mục tiêu cụ thể:
– Đến năm 2025, xây dựng 09 cụm công nghiệp chuyên ngành chế biến gỗ với diện tích trung bình 70-75 ha/cụm. Hoàn thành 01 cụm công nghiệp trong năm 2022 và tiếp tục hoàn thành 08 cụm còn lại trước năm 2025.
– Kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp chế biến gỗ và sản xuất đồ nội thất tỉnh Bình Dương năm 2025 đạt 9 – 10 tỷ USD; năm 2030 đạt 12 -13 tỷ USD.
Định hướng phát triển của toàn tỉnh:
– Xây dựng và phát triển thương hiệu các loại sản phẩm đồ gỗ nội thất chất lượng cao của tỉnh trên thị trường trong nước và quốc tế. Với dòng sản phẩm cao cấp được làm từ gỗ cao cấp (chiếm 15 – 20%) và sản phẩm chất lượng cao được làm từ gỗ có chất lượng phổ thông (80 – 85%).
– Đa dạng hóa thiết kế sản phẩm cho cả thị trường xuất khẩu và nội địa, tập trung vào các sản phẩm gỗ chất lượng cao và cao cấp. Chiến lược bao gồm xây dựng thương hiệu nội thất chất lượng cao từ Bình Dương và đầu tư vào công nghệ sản xuất các sản phẩm này.
Ngoài ra, Theo dự báo từ Hiệp hội Ngân hàng Thế chấp (MBA) Hoa Kỳ, nguồn cung nhà ở và bất động sản ở Hoa Kỳ có tín hiệu phục hồi mạnh. Dự kiến sẽ đạt khoảng hơn 3 triệu ngôi nhà xây mới, kéo theo nhu cầu về đồ nội thất gia đình tăng. Đây cũng là lí do khiến các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào sản phẩm gỗ nội thất.
Tăng Trưởng Xuất Khẩu Gỗ Keo và Cao Su
Keo và cao su là 2 loại gỗ được ưa chuộng nhất Việt Nam hiện nay bởi độ bền, tính thẩm mỹ cao phục vụ cho nhóm sản phẩm nội thất. Cụ thể:
Gỗ Keo lá tràm:
Keo là loài cây phổ biến nhất trong rừng trồng ở Việt Nam, với chu kỳ khai thác 5-7 năm và chiếm 70% diện tích rừng trồng (khoảng 1,7 triệu ha). Gỗ keo lá tràm có độ bền cao, màu sắc đẹp, thường được dùng để làm bàn, ghế, tủ giường, và sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Gỗ Cao Su:
Diện tích rừng cao su Việt Nam ước đạt 1 triệu ha, chủ yếu ở các tỉnh miền Nam. Gỗ cao su nhẹ, dễ gia công, màu vàng sáng, và thân thiện với môi trường. Sau 25-30 năm khai thác mủ, gỗ cao su trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho cả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
Việt Nam hiện có 5,580 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản, thu hút khoảng 500,000 lao động. Trong đó, có 2,600 doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp. Trước đây, khi chưa có các quy định về nguồn gốc và phát triển bền vững, khá nhiều doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu gỗ từ châu Phi vì mức phí rẻ cùng với việc đảm bảo nguồn cung. Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối năm 2024 khi các hiệp định liên quan đến nguồn gốc và phát triển bền vững có hiệu lực, các doanh nghiệp phải cực kỳ cẩn trọng trong việc lựa chọn các loại gỗ nguyên liệu. Do đó, nhằm tránh rủi ro, việc tận dụng nguồn cung trong nước từ gỗ keo và gỗ cao su được lựa chọn.
Mỗi doanh nghiệp có doanh thu từ 100 triệu USD/ năm sẽ cần khoảng 3 triệu m3 gỗ, đó là một nhu cầu cực kỳ lớn nếu giả định 20% trong 2,600 doanh nghiệp cần đến số gỗ này. Do đó, việc tự xây dựng vùng trồng nguyên liệu và phối hợp với nông dân các huyện, xã là điều cực kỳ cấp thiết. Ví dụ, công ty CP Woodsland cũng đã tiến hành phối hợp với nông dân tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trồng 1,500 ha rừng có chứng chỉ FSC.
Với gỗ cao su, do 90% lượng cung gỗ cao su hiện nay có nguồn gốc từ cao su đại điền. Do đó gỗ cao su luôn đảm bảo nguồn gốc rõ ràng cùng với việc tuân thủ các chứng chỉ gỗ bền vững. Đây là nhóm gỗ cực kỳ được ưa thích bởi các doanh nghiệp chế biến gỗ, luôn được kí hợp đồng trước thời hạn với các công ty sản xuất cao su.
Chú Trọng Thị Trường Châu Á
Các xung đột quốc tế và khủng hoảng năng lượng đang có tác động nghiêm trọng đến chi phí logistics toàn cầu, khiến giá vận chuyển hàng hóa tăng cao đáng kể. Điều này gây ra áp lực lớn lên chuỗi cung ứng và giá thành sản phẩm, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại quốc tế. So sánh năm 2024 và 2023, chi phí vận chuyển đến Mỹ đã tăng từ 1.850 USD lên 2.950 USD/ container đối với cảng biển khu vực bờ Tây và tăng từ hơn 2.000 USD lên gần 5.000 USD/container đối với cảng biển khu vực bờ Đông. Còn với thị trường châu Âu, chi phí vận chuyển ghi nhận đã tăng từ 1.230 USD lên 4.450 USD/container.
Điều này dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước châu Á nhằm giảm thiểu chi phí, đẩy nhanh dòng tiền và hạn chế rủi ro. Các thị trường chính ở châu Á được các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia.
Cụ thể với thị trường Trung Quốc, trong 6 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam đạt hơn 1 tỷ USD, tăng đến hơn 46.6% so với cùng kỳ. Đặc biệt, đồ nội thất văn phòng Việt Nam chiếm tới 24.7% thị phần đồ nội thất văn phòng nhập khẩu vào Trung Quốc.
Về Nhật Bản, đây là thị trường lớn thứ 3 của Việt Nam sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. 6 tháng đầu năm 2024, kim nghạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ đến Nhật Bản đạt 796 triệu USD, giảm 2.2% so với cùng kỳ. Nhu cầu trong nước tại Nhật Bản suy yếu do các vấn đề suy giảm kinh tế nửa đầu năm 2024. Việc mất đà tăng trưởng liên tục cùng những bê bối từ các tập đoàn lớn khiến Nhật Bản trải qua quý thứ 4 liên tiếp tiêu dùng cá nhân suy giảm. Đây là mức suy giảm cao nhất suốt 15 năm qua. Kim nghạch nhập khẩu của quốc gia này cũng giảm từ 3.4% -4% trong suốt thời gian qua. Ngoài ra, đồng yên suy yếu khiến giá hàng hoá tăng mạnh, người dân rất hạn chế mua hàng hoá cải thiện nhu cầu cuộc sống như nội thất. Do đó, việc chỉ suy giảm 2.2% là một kết quả có phần tích cực.
Tại thị trường Hàn Quốc, Việt Nam là thị trường cung cấp viên nén gỗ lớn nhất, chiếm 29% về lượng và 22,7% về giá trị trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ dán của Việt Nam. Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang thị trường này đạt 389tr USD trong 6 tháng đầu năm 2024, giảm 1.4% so với cùng kỳ.Nguyên nhân khiến xuất khẩu viên nén sang Hàn Quốc giảm mạnh là do các doanh nghiệp Hàn Quốc có thêm các nguồn cung khác, ví dụ như nguồn cung viên nén giá rẻ từ Nga.Tuy nhiên, việc gia tăng xuất khẩu các sản phẩm dăm gỗ. ghế khung gỗ và cửa gỗ sang thị trường này hứa hẹn sẽ góp phần hỗ trợ tăng trưởng cho nhóm việc mất thị phần từ nhóm sản phẩm viên nén gỗ.
Ấn Độ cũng là một trong những thị trường quan trọng của Việt Nam. 6 tháng đầu năm 2024, tỉ trọng xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ sang thị trường Ấn Độ đạt 63 triệu USD. Đây là quốc gia tăng trưởng mạnh nhất trong top 10 nước nhập khẩu gỗ hàng đầu Việt Nam khi tăng đến 94% so với cùng kì năm 2023. Năm 2023, kim nghạch gỗ từ thị trường này cũng tăng 287,7%; đạt khoảng gần 60 triệu USD. Doanh số bán nhà tại Ấn Độ liên tục tăng trưởng từ 30 -40% trong các năm gần đây, nghành khách sạn cũng kỳ vọng bổ sung thêm 12,000 phòng và thu hút khoảng 2.3 tỷ USD đầu tư. Đây là một thị trường cực kỳ tiềm năng cho nhóm sản phẩm đồ nội thất và đồ đan tre nứa thủ công mỹ nghệ.
Sử Dụng Công Nghệ và Tự Động Hóa
Nhiều doanh nghiệp gỗ đã và đang thay đổi thiết bị và công nghệ theo hướng giảm chi phí nhân công và tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Đây là một điểm sáng đối với nghành gỗ Việt Nam suốt những năm qua.Nhiều dây chuyền tự động hóa được đưa vào vận hành, thay thế nhiều công đoạn lao động thủ công đem lại hiệu quả cao hơn so với trước kia. Công nghệ chế biến gỗ cũng có nhiều tiến bộ khi có doanh nghiệp đã tính đến chuyện sử dụng công nghệ biến tính nhiệt để gia tăng sức chống chọi với thời tiết, tăng độ bền của gỗ.
Đến nay, nội lực của doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu đã và đang được cải thiện rất lớn. Các doanh nghiệp đang thay đổi mạnh mẽ tư duy quản lý, quản trị doanh nghiệp theo mô hình chuyên nghiệp, đầu tư công nghệ cao, công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng, cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và công nghệ thân thiện với môi trường trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0.

Bình Dương, với 1,200 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ cũng có những chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình đẩy mạnh tự động hóa và quản lý năng lượng hiệu quả hướng tới sản xuất thông minh. Các doanh nghiệp được đào tạo bài bản từ áp dụng tự động hoá cho từng máy, cụm máy hoặc dây chuyền, rồi đến liên hoàn nhiều công đoạn, và cuối cùng là toàn bộ dây chuyền, dần dần thay thế nhân công bởi máy móc tự động hóa.
Bên cạnh đó, nhờ tính năng dự báo năng suất và tối ưu hóa của hệ thống, các doanh nghiệp Việt Nam dần chủ động phòng tránh giao hàng trễ hạn, tăng uy tín với khách hàng, đối tác, từ đó chúng tôi có được nhiều đơn hàng lớn từ các Tập đoàn hàng đầu
Phát Triển Sản Phẩm Thân Thiện với Môi Trường
Doanh nghiệp ngành gỗ dần dần phải chuyển đổi xanh vì yêu cầu của thị trường, khách hàng và đó cũng là xu thế toàn cầu. Do đó, việc hướng tới các sản phẩm thân thiện với môi trường là một bước đi đảm bảo cho tương lai.
Vấn đề ô nhiễm nhựa đang ngày càng trở nên nghiêm trọng và cực kỳ được quan tâm tại EU và Mỹ. Do đó, việc sử dụng các sản phẩm thay thế hàng ngày từ vật liệu an toàn thay thế nhựa cực kỳ được quan tâm, ví dụ như ống hút tre, đũa tre, thìa tre nứa. Sản phẩm lát sàn vật liệu tre cũng là một vật liệu thân thiện với môi trường cực kỳ được ưa thích, giúp cân bằng sinh thái với các sản phẩm sàn gỗ tự nhiên. Đặc điểm của cây tre là chỉ trong vòng 6 năm là đã có thu hoạch đưa vào sản xuất, do vậy, việc sử dụng ván sàn tre được xem là một đóng góp tích cực để bảo vệ các khu rừng nhiệt đới tại châu Á và châu Mỹ. Ván sàn tre được sản xuất theo công nghệ ép sợi và xử lý nhiệt tiên tiến, giúp tăng tính bền vững, đặc biệt cách âm cực kỳ tốt khi so sánh với các thành phẩm khác. Trong quá trình sản xuất bằng áp suất lớn, sản phẩm ván sàn tre có độ chống thấm, chống rạn nứt gần như tuyệt đối, công nghệ mới tạo cho ván sàn tre có những hoa văn đặc biệt sống động đạt độ tự nhiên như sản phẩm gỗ tự nhiên.

Gỗ tái sử dụng cũng là một loại vật liệu thân thiệt với môi trường thường được sử dụng trong trang trí nội thất và thi công. Gỗ tái chế có thể đến từ các công trình nhà cũ hay phế liệu gỗ chưa được sử dụng từ quá trình tạo thành phẩm ( thường 18 -21% lượng phế liệu gỗ bị loại bỏ trong quá trình chế biến). Gỗ tái chế có thể sử dụng làm cửa gỗ, đồ trang trí, ván sàn. Những năm gần đây, tại Brazil xuất hiện nhiều công trình sử dụng vật liệu tái chế một cách hiệu quả. Những dự án này đã góp phần giảm thiểu chất thải ra môi trường. Một trong những dự án tiêu biểu phải kể đến Hanging House ở Sao Paulo, được làm từ 80% vật liệu tái chế với tiêu chí hòa hợp với hệ sinh thái bản địa nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững.
Vật liệu gỗ và tre tái sử dụng ngày càng thu hút được sự quan tâm của cộng đồng. Khái niệm bảo vệ môi trường ngày càng được lan tỏa trên thế giới. Do đó những sáng kiến đi liền với sự phát triển về mẫu mã đang cực kỳ được quan tâm bởi các doanh nghiệp và kiến trúc sư Việt Nam.
KẾT LUẬN
Nghành gỗ Việt Nam đang càng ngày càng phát triển và cho thấy sự thích ứng với những biến động kinh tế cũng như chính sách gắt gao từ thế giới. Các doanh nghiệp đều dần có những nhận định và tầm nhìn chung, một trong số đó là việc chú trọng mở rộng những thị trường mới, tăng cường đa dạng hóa các kênh bán hàng từ truyền thống và phi truyền thống, đồng thời chung tay hợp tác với nông dân trong việc phát triển nguồn nguyên liệu bền vững.
Các chủ trương, chính sách từ nhà nước cũng được nhận diện rõ ràng. Hiện nay, các cấp từ Trung ương đến địa phương đều cố gắng ban hành các chính sách, các hướng dẫn, xây dựng các chương trình để triển khai việc trong việc giao đất, giao rừng, phát triển rừng sản xuất tại địa phương cũng như đầu tư công nghệ máy móc và phát triển các khu công nghiệp lớn cho sản xuất và chế biến gỗ.
Với sự hỗ trợ từ các hiệp định thương mại đã và sắp có hiệu lực, cùng với chính sách và hành động đi đúng hướng. Kỳ vọng nghành gỗ Việt Nam sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong giai đoạn 2024 -2025 khi nhiều dự án hỗ trợ nghành gỗ bắt đầu có hiệu lực.
—–
Dưới đây là loạt bài viết sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ngành gỗ Việt Nam: