Tổng quan ngành gỗ Việt Nam
Ngày 24/4/1989 bộ trưởng bộ lâm nghiệp Việt Nam Phan Xuân Đợt ra quyết định loại bỏ hoàn toàn gỗ tròn trong danh mục xuất khẩu, đưa định hướng đất nước sang xuất khẩu các mặt hàng chế biến gỗ như: đồ gỗ và đồ gỗ kết hợp song mây, ván sàn, ván sàn tinh chế, gỗ lạng, gỗ dán, ván dăm, ván sợi ép, gỗ xẻ, v.v… Nhờ vậy, tính đến nay, đồ gỗ Việt Nam đã có mặt trên phạm vi của 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, đem về cho đất nước trung bình trên 10 tỷ USD/ năm. Đưa VIệt Nam trở thành nước xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á và đứng đầu khu vực Đông Nam Á.
Nghành gỗ dần trở thành một nghành chủ đạo của xuất khẩu Việt Nam. Không chỉ cung cấp các sản phẩm gỗ thô cho sản xuất công nghiệp, các thành phẩm từ gỗ của Việt Nam cũng được đánh giá rất cao trên thị trường thế giới. Suốt từ năm 2020 đến nay, Việt Nam luôn là quốc gia đứng đầu về nguồn cung đồ nội thất bằng gỗ vào thị trường Mỹ với 35% -40% thị phần..
Trong năm 2023, theo nghiên cứu công bố bởi tổ chức nghiên cứu tư vấn về thị trường nội thất và ngành công nghiệp CSIL, VIệt Nam tăng đến 7 hạng để trở thành nhà sản xuất đồ nội thất lớn thứ 6 thế giới. Chỉ đứng sau top 5 cường quốc nội thất hàng đầu, giữ vững vị thế suốt thập kỷ qua bao gồm: Trung Quốc, Mỹ, Italy, Đức và Ấn Độ. Dù cách biệt với các 2 nước dẫn đầu là khá xa. Tuy nhiên, việc tăng đến 7 hạng chỉ trong chưa đến 10 năm chứng tỏ sự quyết tâm của toàn bộ doanh nghiệp cũng như chính phủ Việt Nam về việc đổi mới, áp dụng công nghệ và tuân thủ các chính sách toàn cầu nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm gỗ Việt.

Top 10 countries of funiture production
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong nửa đầu năm 2024, xuất khẩu gỗ và lâm sản thu về 7.95 tỷ USD, tăng 21.2% so với cùng kỳ năm 2023 và đạt 52.3% so với kế hoạch của cả năm. Một số thị trường chính tăng mạnh như: Hoa Kỳ đạt 4.38 tỷ USD, tăng 27.6% so với cùng kỳ năm 2023; Trung Quốc đạt 1,059 tỷ USD, tăng 46.6%
Tính riêng năm 2023, tổng kim nghạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam đạt 13.18 tỷ USD. Đồ gỗ nội thất, ghế ngồi, dăm gỗ, gỗ dán, viên nén là 5 trong số các mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn trong năm 2023, đạt 11.91 tỷ USD, chiếm 90.4% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Một vài HS code nổi bật như:
Bộ phận đồ gỗ (HS 940390): 1.04 tỷ USD, giảm 28.6% so với 2022
Đồ gỗ nội thất phòng ngủ (HS 940350): 1.18 tỷ USD, giảm 18.7% so với 2022
Đồ gỗ nội thất phòng bếp (HS 940340): 970.26 triệu USD, giảm 8.2% so với năm 2022
Nội thất văn phòng (HS 940330): 254.27 triệu USD, giảm 28.6% so với năm 2022
Ghế nhồi đệm (HS 94017100): 1.87 tỷ USD, tăng 9.1% so với năm 2022. Đây cũng là sản phẩm chiếm tới 66% tổng kim nghạch xuất khẩu của mặt hàng ghế ngồi và 15% tổng kim nghạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Một trong số ít những sản phẩm tăng trưởng trong năm 2023
Ghế có tựa lưng (HS 94016910) đạt 9,5 triệu USD, giảm 50.7% so với 2022
Ghế ngồi loại khác (HS 94016990) đạt 539.9 triệu USD, giảm 32.1% so với năm 2022
Bộ phận ghế ngồi, loại khác (HS 94019099) đạt 40.51 triệu USD, giảm 12.4% so với năm 2022.
Nếu tính riêng đồ gỗ nội thất, Việt Nam mới chỉ chiếm chưa tới 10% tổng sản lượng toàn cầu. Nhu cầu nhập khẩu nội thất bằng gỗ đạt 75 tỷ USD, dĩ nhiên các sản phẩm Việt Nam sẽ không thể cạnh tranh ngay lập tức với sản phẩm từ Trung Quốc hay Mỹ trong ngắn hạn. Nhưng Ghế nhồi đệm Việt Nam có thể tự tin là nhân tố chính trong công cuộc gia tăng thị phần của đồ nội thất Việt Nam. Các sản phẩm này thường rất được ưa chuộng tại thị trường Mỹ, Canada và EU.
Về tình hình xuất khẩu viên nén dạng gỗ trong năm 2023, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết Việt Nam đã xuất khẩu 4.67 triệu tấn với kim nghạch đạt 679.59 triệu USD, giảm 4.3% về lượng và 13.7% về giá trị so với năm 2022. Hiện tại xuất khẩu viên nén chiếm 5.2% tổng kim nghạch xuất khẩu của nghành gỗ. Viên nén gỗ xuất khẩu thường được sử dụng để đốt lò sưởi, lò hơi, máy phát điện hoặc làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác.
Về dăm gỗ, Việt Nam xuất khẩu gần 14.42 triệu tấn dăm gỗ với kim nghạch xuất khẩu đạt 2.22 tỷ USD trong năm 2023. Giảm 8.8% về lượng và 20.4% về giá trị so với năm 2022. Hiện tại dăm gỗ đang là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của nghành gỗ với gần 17% thị phần so sánh với tổng lượng xuất khẩu của nghành gỗ Việt Nam. Các nước thu mua dăm gỗ Việt Nam chủ yếu làm nhiên liệu đốt cho nhiệt điện, sản xuất bột giấy, nhiên liệu đốt trong sinh hoạt gia đình.
Thị trường xuất khẩu gỗ Việt Nam
Năm 2023 Việt Nam xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang 170 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau.Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của ngành vào 5 thị trường chính, gồm: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và EU đạt trên 11.74 tỷ USD, chiếm trên 89.13% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng sang các thị trường này giảm từ 12% đến 30% so với năm 2022.
Mỹ là thị trường lớn nhất cho xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, chiếm tới 53.9% tổng sản lượng xuất khẩu toàn nghành. Kim nghạch xuất khẩu năm 2023 vào thị trường Mỹ đạt 7.1 tỷ USD, giảm 16.3% so với năm 2022.
Việt Nam xuất khẩu 2 nhóm sản phẩm chính vào thị trường Mỹ là HS 9401 ( Ghế ngồi) và HS 9403 (Đồ nội thất khác và các bộ phận của chúng). 2 mã này chiếm tới 90% tổng kim nghạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 10% còn lại là nhóm gỗ và các sản phẩm nguyên liệu thuộc nhóm HS 44. Trong năm 2024, tính đến hết tháng 6, sau khi thị trường có dấu hiệu phục hồi, trị giá xuất khẩu đồ nội thất bằng gỗ tới Hoa Kỳ đạt tới 3.45 tỷ USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2023.
Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai của Việt Nam với 13.1% tổng kim nghạch xuất khẩu. Năm 2023 ghi nhận 1.73 tỷ USD xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ vào thị trường này. Do 2 nước sát nhau nên sẽ có 2 hình thức xuất khẩu chính là xuất khẩu chính nghạnh và tiểu nghạnh. Các mặt hàng xuất khẩu chính chủ yếu thuộc nhóm HS 44 với tổng kim nghạch 1.68 tỷ USD, chiếm 97% tổng giá trị gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này.
Nhật Bản đứng vị trí thứ 3 với thị phần thấp hơn một chút so với Trung Quốc – 12.6%. Tổng kim nghạch xuất khẩu của gỗ và sản phẩm từ gỗ Việt Nam sang thị trường này đạt 1.65 tỷ USD, giảm 12.5% so với năm 2022. Nhóm hàng chính xuất khẩu vẫn là nhóm gỗ và nguyên liệu gỗ thuộc HS 44, tiếp đó là các nhóm sản phẩm về viên nén và dăm gỗ. Nhóm HS 44 không thống trị hoàn toàn như với thị trường Trung Quốc hay Mỹ khi chỉ chiếm 76.9% tổng kim nghạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang Nhật Bản.
Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn thứ tư của Việt Nam, chiếm 6.1% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ của cả nước. Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 796.81 triệu USD, giảm 21.3% so với năm 2022. Đáng chú ý, Hàn Quốc chiếm tới 29% lượng gỗ dán xuất khẩu, là thị trường lớn nhất với nghách sản phẩm này của nghành gỗ Việt Nam.
Một nhóm thị trường quan trọng và vô cùng tiềm năng khác là thị trường 17 nước EU. Hiện tại sản lượng gỗ và các sản phẩm từ gỗ xuất khẩu sang EU chỉ chiếm 3.5% tổng kim nghạch xuất khẩu của nghành với 455.52 triệu USD ghi nhận trong năm 2023. Đây là một thị trường cực kỳ khắt khe về tiêu chuẩn và nguồn gốc hợp pháp của gỗ tuy nhiên lại rất tiềm năng để đẩy mạnh thị phần của Việt Nam trên bản đồ thế giới. Hiện tại, trái với các nước khác khi nhóm HS 44 được ưa chuộng, thị trường EU chủ yếu nhập khẩu các sản phẩm thuộc nhóm HS 94 ( Đồ nội thất; bộ đồ giường, đệm, khung đệm) với 2 mã chính là HS 9401 và HS 9403 với 356 triệu USD ghi nhận trong năm 2023, chiếm 78% tổng kim nghạch xuất khẩu sang thị trường này.
Diện tích trồng rừng phục vụ cho sản xuất tại Việt Nam
Theo báo cáo mới nhất năm 2022, diện tích rừng bao phủ toàn Việt Nam đạt 14,790,075 ha trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 71% tổng diện tích với 10,134,082 ha ghi nhận. Diện tích rừng trồng phục vụ cho kinh tế đạt 4,655,993 ha.
Xét theo khu vực, vùng trung du và miền núi phía bắc cùng vùng bắc trung bộ và duyên hải miền trung là 2 khu vực sỡ hữu trữ lượng rừng lớn nhất Việt Nam, xét trên cả khía cạnh rừng tự nhiên và rừng trồng với lần lượt 5.4 triệu ha và 5.6 triệu ha. 2 khu vực này chiếm đến gần 70% tổng sản lượng rựng của cả nước, tiếp đến là khu vực Tây Nguyên ở vị trí số 4. Sau đó là Đồng Bằng Sông Hồng và khu vực Đông Nam Bộ, 2 khu vực này nằm ở đồng bằng, sở hữu trung tâm kinh tế của cả nước nên độ phủ rừng không cao. Đồng Bằng sông Cửu Long hầu như rất ít diện tích rừng tự nhiên khi đây là khu vực nổi tiếng bởi sông nước. Khu vực này chủ yếu nổi tiếng bởi trữ lượng rừng ngập mặn bổ trợ cho các hoạt động sản xuất nông sản và thuỷ hải sản.

Về diện tích rừng trồng theo các tỉnh để phục vụ cho sản xuất, Lạng Sơn đứng đầu cả nước về trữ lượng rừng trồng với 316,573 ha ( chiếm 6.8% trữ lượng rừng cả nước). Tiếp đến là 3 tỉnh ở khu vực phía bắc là Thanh Hoá và Quảng Ninh, Yên Bái với trữ lượng tương đồng ở mức từ 248 ngàn ha đến 254 ngàn ha, đóng góp ở mức từ 5.3 – 5.5% tổng diện tích rừng trồng quốc gia.
Trong số top 10 tỉnh trồng rừng hàng đầu cả nước này, xét theo khu vực thì có 3 tỉnh thuộc khu vực trung du và miền núi là Lạng Sơn và Yên Bái, Tuyên Quang. Duy nhất 1 tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng là Quảng Ninh. Vùng Bắc Trung Bộ và duyên Hải miền trung sở hữu đến 5/10 tỉnh ở thứ hạng đầu, đây cũng là lí do giải thích cho việc trữ lượng rừng trồng ở khu vực này là cao nhất cả nước. Bao gồm: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Bình Định và Thanh Hoá. Vị trí còn lại trong nhóm top 10 thuộc về tỉnh Tây Nguyên duy nhất, Gia Lai.

Top 10 province have largest planted forest area in Vietnam
Dù độ phủ rừng quốc gia lên đến 42% tuy nhiên diện tích rừng trồng quốc gia vẫn còn quá thấp so với tiềm năng sản xuất gỗ của Việt Nam. Phát triển vùng rừng trồng sản xuất gỗ lớn tập trung nhằm chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng là mục tiêu chính mà chính phủ Việt Nam hướng tới với đề án thúc đẩy trồng rừng theo mục tiêu hướng tới năm 2030.
Theo đó, đến năm 2030, tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn đạt khoảng 1 triệu ha, trong đó duy trì diện tích rừng trồng gỗ lớn hiện có là 500.000 ha và phát triển mới giai đoạn 2024 – 2030 khoảng 450.000-550.000 ha. trong đó:
Tại Vùng trung du và miền núi phía Bắc: 130,000-146,000 ha;
Vùng đồng bằng sông Hồng: 6.000-9.000;
Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: 280,000-348,000;
Vùng Tây Nguyên: 25,000-35,000;
Vùng Đông Nam Bộ: 7,500-10,000;
Vùng Tây Nam Bộ: 1,500- 2,000 ha.
Ngoài ra, chính phủ Việt Nam còn cụ thể hoá chính sách này bằng cách thúc đẩy khoa học công nghệ, nâng cao ý thức của người dân trong việc thâm canh cây keo, bạch đàn và các loài cây lâm nghiệp khác trung bình đạt 20 m3/ha/năm vào năm 2025 và 22m3/ha/năm vào năm 2030; Hiện diện tích keo tràm chiếm khoảng 70-80% tổng diện tích rừng trồng, phần còn lại tập trung vào các loài bạch đàn, thông và mỡ, theo dữ liệu của Forest Trends.
Đây sẽ là một đề án cực kỳ quan trọng quyết định đến tốc độ phát triển của nghành gỗ Việt Nam. Tính đến tháng 9/2023 tổng diện tích rừng của Việt Nam có cả 2 loại chứng chỉ VFCS/PEFC và FSC đạt gần 500,000ha. Trong đó có 152,000 ha chứng chỉ rừng VFCS/PEFC và 282,960 ha chứng chỉ FSC chiếm khoảng 64% tổng diện tích rừng trồng tại Việt Nam.
VFCS/PEFC là văn bản do Tổ chức chứng nhận được VFCO công nhận cấp cho các chủ rừng, tổ chức. Theo đó, các chủ rừng, tổ chức có diện tích rừng được cấp chứng chỉ đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của VFCS/PEFC. Thời hạn của chứng chỉ là 5 năm và các chủ rừng, tổ chức sẽ phải thực hiện đánh giá giám sát hàng năm của tổ chức chứng nhận để duy trì chứng chỉ và đảm bảo rừng được quản lý đúng tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của VFCS.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần tuân thủ một hệ thống chứng chỉ quan trọng khác để tạo vị thế trên thị trường, đặc biệt là khi xuất sang EU và Mỹ. Đó là hệ thống chứng chỉ FSC với hai chứng nhận quan trọng là FSC- FM (nguyên liệu gỗ có xuất xứ từ những vùng rừng được phát triển bền vững) và FSC-CoC (chuỗi khai thác, chế biến đến thành phẩm, xác định nguyên liệu từ rừng đã được quản lý tốt, kết nối trong quy trình sản xuất). Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ có chứng chỉ FSC 11 tháng đầu năm 2023 đạt 226.85 triệu USD, theo Tổng cục Hải quan.
Quảng Trị là tỉnh đầu tiên ở Việt Nam được cấp chứng nhận quốc tế FSC đối với rừng tự nhiên. 2.145 ha rừng tự nhiên của 5 thôn tại các xã: Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Việt, Hướng Linh của huyện Hướng Hóa được cấp chứng nhận quốc tế FSC dịch vụ hệ sinh thái về lưu trữ và hấp thụ carbon vào tháng 10/2022. Theo tính toán, trữ lượng lưu trữ carbon tại các diện tích rừng này khoảng 350,000 tấn CO2 và lượng hấp thụ hàng năm khoảng 7,000 tấn CO2.
Các làng nghề làm gỗ tại Việt Nam – Yếu tố tạo nên bản sắc
Việt Nam hiện có khoảng hơn 340 làng nghễ gỗ phân bố rải rác khắp cả nước, . Mỗi làng nghề có khoảng 2,000 hộ gia đình tham gia vào hoạt động chế biến và sản xuất gỗ. Các làng nghề này được duy trì và truyền đời qua nhiều thế hệ, góp phần duy trì chất lượng và mẫu mã đặc trưng của từng làng nghề.
Hiện nay số làng nghề gỗ chiếm khoảng 11.2% tổng số làng nghề khắp cả nước. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng có 182 làng nghề, chiếm 53.2% tổng số làng nghề chế biến gỗ, vùng Đông Bắc bộ có 20 làng nghề (5.8%), vùng Tây bắc bộ có 24 làng nghề (7.0%), vùng Bắc Trung bộ có 61 làng nghề (17.8%), vùng Nam Trung bộ có 5 làng nghề (1.5%), vùng Đông Nam bộ có 17 làng nghề (17.0%), vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 33 làng nghề (9.6%). Theo lịch sử hình thành làng nghề thì số làng nghề chế biến gỗ được hình thành trên 100 năm chiếm 21.7%, hình thành từ 30 năm đến dưới 100 năm là 29.9%, mới được hình thành từ 30 năm đến dưới 10 năm chiếm 37.0%, còn lại 11.4% là các làng nghề chế biến gỗ mới được hình thành trong 10 năm gần đây.
Tay nghề của nhóm các nghệ nhân làng nghề từ 30 năm trở lên là cực kỳ cao. Nhiều người trong số họ sống cả đời với nghề, từ khi chập chững biết đi đã được cha mẹ ông bà truyền dạy cách điêu khắc. Do đó các sản phẩm của họ mang giá trị cực kỳ cao cho kinh tế Việt Nam, rất nhiều nghệ nhân được phong tặng danh hiệu “nghệ sĩ ưu tú” vì những đóng góp trong các lĩnh vực phù điêu, chế tác và chạm khắc đồ gỗ

The works chiseled by the talented hands of artisan Nguyen Tran Hiep not only receive high appreciation for their artistic and ideological values but also contain cultural values and Eastern spirituality.
Sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng ổn định 4.6%/năm
Cơ cấu sản xuất lâm nghiệp ngày càng chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị gia tăng của chuỗi sản xuất với sự tăng trưởng ổn định 4.6%/năm. Hàng năm, Việt Nam trồng mới trên 260,000 ha rừng. Năng suất, chất lượng rừng trồng được nâng cao, cung cấp trên 70% nguyên liệu gỗ cho chế biến lâm sản, phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
Nguồn thu dịch vụ môi trường rừng đạt bình quân 3,650 tỷ đồng/năm và sẽ còn cao hơn nữa khi hoàn thiện chính sách mua bán chứng chỉ carbon trong giai đoạn tới. Điều này sẽ hỗ trợ rất nhiều để nông dân tin tưởng hơn vào những kế hoạch trồng rừng cây gỗ lớn trong giài hạn. Tại Hội nghị tổng kết năm 2023, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị cho biết lần đầu tiên tại Việt Nam trong lĩnh vực lâm nghiệp đã bán thành công 10.3 triệu tín chỉ các-bon rừng (10.3 triệu tấn CO2) thông qua Ngân hàng Thế giới (WB) với đơn giá 5 USD/tấn, thu về 51.5 triệu USD (khoảng 1,250 tỉ đồng).
Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp, theo ông Nguyễn Văn Tiến- Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – cho rằng nhà nước cần khuyến khích tích tụ, tập trung đất để phát triển sản xuất, kinh doanh, hình thành chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm lâm nghiệp tập trung quy mô lớn. Sử dụng đất lâm nghiệp đa mục đích nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp, nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa .Đồng thời, tăng cường khả năng tiếp cận đất đai của các chủ thể có nhu cầu sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Bổ sung đối tượng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Mở rộng đối tượng là tổ chức kinh tế, cá nhân được nhận chuyển nhượng, cho thuê đất lâm nghiệp phù hợp với thực tiễn sản xuất của từng vùng, miền.
Vượt qua thách thức để nâng tầm
Thách thức của việc trồng rừng gỗ lớn ở Việt Nam liên quan đến một số rào cản quan trọng cần giải quyết để phát triển lâm nghiệp bền vững:
1. Các thửa đất nhỏ lẻ và manh mún: Đất để trồng rừng gỗ lớn thường bị chia cắt và phân tán, gây khó khăn cho việc hình thành các vùng rừng gắn kết, quy mô lớn. Sự phân mảnh này cản trở việc quản lý hiệu quả và hạn chế tính kinh tế theo quy mô trong hoạt động lâm nghiệp.
2. Thời gian phát triển dài và chi phí đầu tư cao: Trồng rừng gỗ lớn đòi hỏi sự cam kết lâu dài, điển hình là chu kỳ sinh trưởng trên 10 năm. Điều này đặc biệt thách thức ở những khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn, nơi cộng đồng có thể phải vật lộn để chờ đợi cả thập kỷ mới thấy được lợi tức đầu tư của mình. Hơn nữa, chi phí đầu tư ban đầu cao ngăn cản nhiều nông dân và các tổ chức vừa và nhỏ thực hiện các dự án trồng rừng.
3. Tính dễ bị tổn thương về khí hậu: Biến đổi khí hậu, đặc trưng bởi các kiểu thời tiết thất thường như bão gió trong mùa mưa và cháy rừng vào mùa khô, gây ra rủi ro đáng kể cho rừng mới trồng. Việc không có bảo hiểm cho rừng trồng làm trầm trọng thêm những rủi ro này, làm nản lòng các nhà đầu tư tiềm năng.
4. Sự bất ổn của thị trường và mối lo ngại về chất lượng sản phẩm: Thị trường các sản phẩm gỗ lớn thường không ổn định, ảnh hưởng đến giá cả và nhu cầu thị trường. Các loài cây sinh trưởng nhanh như keo lai thường được sử dụng để trồng rừng thường có khiếm khuyết về cấu trúc như các bộ phận rỗng và mắt gỗ làm giảm giá trị của gỗ.
5. Hạn chế về tài chính: Việc tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại là một thách thức do lãi suất cao, điều kiện vay phức tạp và thủ tục nghiêm ngặt. Các ngân hàng thường cung cấp các khoản vay chỉ bao gồm một phần tổng chi phí dự án, gây khó khăn cho nông dân và các tổ chức trong việc mở rộng diện tích trồng rừng hoặc đầu tư vào các dự án lâm nghiệp.
Để vượt qua những thách thức này, Việt Nam đang khám phá nhiều cách tiếp cận khác nhau để hỗ trợ nỗ lực trồng rừng và giảm bớt gánh nặng tài chính cho nông dân và tổ chức. Bao gồm các chính sách:
1. Hỗ trợ và khuyến khích tài chính: Đưa ra các khoản trợ cấp tiền mặt và trợ cấp lãi suất cho những người tham gia vào các dự án trồng rừng trồng gỗ lớn.
2. Hỗ trợ chính sách: Thực hiện các chính sách thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp bền vững và đưa ra hướng dẫn về lợi ích kinh tế lâu dài để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.
3. Các biện pháp giảm thiểu rủi ro: Xây dựng các chính sách bảo hiểm phù hợp để bảo vệ rừng trồng trước các rủi ro liên quan đến khí hậu như bão và hỏa hoạn.
Giải quyết những vấn đề này một cách toàn diện sẽ rất quan trọng để Việt Nam mở rộng hiệu quả diện tích rừng gỗ lớn, tăng cường khả năng phục hồi của rừng và quản lý bền vững tài nguyên lâm nghiệp cho các thế hệ tương lai.
Các quy định về điều tra bán phá giá đang tạo ra những lo ngại với sản phẩm gỗ của Việt Nam tại các thị trường lớn.
Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) chính thức thông báo áp dụng quy định mới về phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị trường này. Theo đó, DOC đưa ra 5 quy định mới đáng lưu ý về điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống lẩn tránh đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, ảnh hưởng trực tiếp đến nhóm sản phẩm gỗ từ Việt Nam. Theo kết luận này, sản phẩm gỗ dán nhập khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ nếu có lõi sử dụng nguyên liệu là ván bóc nhập khẩu từ Trung Quốc bị coi là lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đang áp dụng với gỗ dán nhập khẩu từ Trung Quốc. Một số sản phẩm có thể bị ảnh hưởng như:
– Gỗ dán từ nguyên liệu gỗ cứng (hardwood plywood)
Các mã HS tham khảo: 4412.31, 4412.32, 4412.33, 4412.34, 4412.94, 4412.99
– Đồ nội thất phòng ngủ (Wooden bedroom furniture)
Các mã HS tham khảo: 9403.50.9041, 9403.50.9042, 9403.50.9045, 9403.50.9080, 9403.90.7005, 9403.90.7080
– Ghế sofa có khung gỗ (Seats with wooden frames, upholstered)
Mã HS tham khảo: 9401.61
– Gỗ thanh và viền dải gỗ được tạo dáng liên tục (Wood mouldings, millwork products)
Mã HS tham khảo: 4409.10, 4409.22, 4409.29
Ngoài ra, tại Hàn Quốc, Việt Nam cũng bị tái điều ra việc chống bán phá giá sản phẩm gỗ dán, ván ép trong giai đoạn từ 2020 – 2023. Chi hội gỗ dán Việt Nam nhận được nhiều thông tin rằng sẽ có sự chênh lệch mức thuế rất lớn biên độ dao động từ 4,2 – 13,04%. Giá trị xuất khẩu mặt hàng gỗ dán trong năm 2023 là 889 triệu USD, chiếm 6,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ của Việt Nam.Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Malaysia là 4 thị trường xuất khẩu gỗ dán chính của Việt Nam vào năm 2023, chiếm 77,1% về lượng và 77,4% về giá trị.
Ứng phó với các đạo luật mới liên quan đến phát triển bền vững từ EU và Mỹ.
Ngày 23/6/2023, EU đã ban hành Quy định chống mất rừng (EUDR). Quy định này được áp dụng vào tháng 01/2025, theo đó sẽ cấm nhập khẩu 7 nhóm mặt hàng (cà phê, dầu cọ, gỗ, cao su, thịt bò, ca cao và đậu) vào EU nếu quá trình sản xuất các mặt hàng này gây mất rừng. Nhật cũng tiếp tục ban hành các đạo luật về gỗ hợp pháp.
Những quy định này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam dù hiện tại EU chưa phải là thị trường lớn với các sản phẩm gỗ Việt, nhưng sẽ tác động trong dài hạn khi rất có thể Mỹ hay Hàn Quốc cũng sẽ đưa ra những sắc lệnh tương tự.
Thống kê năm 2020, Việt Nam có 5.381 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản, Trong số này, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chiếm tới 96.2%, doanh nghiệp vừa chiếm 2.2% và doanh nghiệp lớn chiếm 1.1%. Những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ này chủ yếu tập trung nhiều tại hơn 340 làng nghề gỗ phân bố rải rác trên khắp cả nước. Mặt tích cực là nhóm doanh nghiệp nhỏ từ làng nghề này mang đến rất nhiều những sản phẩm thủ công chất lượng cao nhưng mặt tiêu cực là rất khó để kiểm soát toàn bộ và đảm bảo nguyên liệu gỗ từ các làng nghề này đều tuân thủ theo các chính sách bảo vệ rừng.
Hàng năm, các làng nghề gỗ Việt Nam nhập khẩu khoảng 2 triệu m3 gỗ nguyên liệu từ châu Phi. Vấn đề là nguồn gốc của nhóm nguyên liệu này là nguyên liệu rủi ro theo chính sách của chính phủ do có thể xuất pháp từ gỗ khai thác bất hợp pháp. Dưới sức ép của chính sách, nhiều hộ làng nghề muốn chuyển đổi gỗ đầu vào từ gỗ rủi ro sang gỗ trong nước hoặc gỗ nhập khẩu ít rủi ro. Tuy nhiên, bản thân hộ làng nghề không thể tự chuyển đổi mà họ cần trợ giúp của Chính phủ và ngành cũng như các công ty trong việc hỗ trợ quản lý, áp dụng công nghệ vào trong việc quản lý nguyên liệu đầu vào và nguồn gốc sản phẩm.