Tính đến năm 2024, đồ gỗ Việt Nam đã có mặt trên phạm vi của 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, đem về cho đất nước trung bình trên 10 tỷ USD/ năm. Đưa VIệt Nam trở thành nước xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn thứ 5 thế giới, thứ 2 châu Á và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Theo nghiên cứu công bố bởi tổ chức nghiên cứu tư vấn về thị trường nội thất và ngành công nghiệp CSIL, VIệt Nam tăng đến 7 hạng để trở thành nhà sản xuất đồ nội thất lớn thứ 6 thế giới trong giai đoạn từ 2014 đến 2023, là quốc gia tăng trưởng lớn nhất toàn thế giới trong giai đoạn 10 năm này.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong nửa đầu năm 2024, xuất khẩu gỗ và lâm sản thu về 7.95 tỷ USD, tăng 21.2% so với cùng kỳ năm 2023 và đạt 52.3% so với kế hoạch của cả năm. Một số thị trường chính tăng mạnh như: Hoa Kỳ đạt 4.38 tỷ USD, tăng 27.6% so với cùng kỳ năm 2023; Trung Quốc đạt 1,059 tỷ USD, tăng 46.6%.
Dưới đây là 6 lý do chính giải thích tại sao nhập khẩu gỗ từ Việt Nam là một trong những lựa chọn đúng đắn cho doanh nghiệp nước ngoài.
1. Nguồn nguyên liệu dồi dào và đa dạng
Việt Nam sở hữu diện tích rừng lớn thứ 35 trên thế giới với tổng diện tích rừng bao phủ toàn Việt Nam đạt 14,790,075 ha trong đó diện tích rừng trồng phục vụ cho kinh tế đạt 4,655,993 ha.
Tính đến tháng 9/2023 tổng diện tích rừng của Việt Nam có cả 2 loại chứng chỉ VFCS/PEFC và FSC đạt gần 500,000ha, các chứng chỉ được công nhận toàn cầu. Trong đó có 152,000 ha chứng chỉ rừng VFCS/PEFC và 282,960 ha chứng chỉ FSC chiếm khoảng 64% tổng diện tích rừng trồng tại Việt Nam.
Tre nứa cũng là một trong những sản phẩm chủ đạo tạo ra các hàng hoá mang tính thủ công cao của Việt Nam. Với khoảng 1.4 triệu ha tre, tương đương 6.2 tỷ cây. Việt Nam có 37 tỉnh có rừng tre tập trung, trong đó 23 tỉnh có diện tích tre từ 10,000ha trở lên. Trong số 40 loài tre nứa, có 9 loài có giá trị kinh tế là vầu, lồ ô, tre, tre gai, mạnh tông, luồng, tầm vông, trúc sào, mai và diễn. Các loài tre có giá trị thương mại cao là luồng, trúc và tầm vông. Cả nước có khoảng 30,000ha mây, phân bố ở 28 tỉnh trên cả nước và hầu hết là mây tự nhiên. Những sản phẩm này tạo ra rất nhiều hàng hoá thủ công mỹ nghệ, rất được ưa thích trên Esty, Amazon.
Một vài HS code nổi bật trong nghành nội thất xuất khẩu mạnh sang Hoa Kỳ, EU như:
- Bộ phận đồ gỗ (HS 940390): 1.04 tỷ USD, giảm 28.6% so với 2022
- Đồ gỗ nội thất phòng ngủ (HS 940350): 1.18 tỷ USD, giảm 18.7% so với 2022
- Đồ gỗ nội thất phòng bếp (HS 940340): 970.26 triệu USD, giảm 8.2% so với năm 2022
- Nội thất văn phòng (HS 940330): 254.27 triệu USD, giảm 28.6% so với năm 2022
- Ghế nhồi đệm (HS 94017100): 1.87 tỷ USD, tăng 9.1% so với năm 2022. Đây cũng là sản phẩm chiếm tới 66% tổng kim nghạch xuất khẩu của mặt hàng ghế ngồi và 15% tổng kim nghạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Một trong số ít những sản phẩm tăng trưởng trong năm 2023
- Ghế có tựa lưng (HS 94016910) đạt 9,5 triệu USD, giảm 50.7% so với 2022
Ghế ngồi loại khác (HS 94016990) đạt 539.9 triệu USD, giảm 32.1% so với năm 2022 - Bộ phận ghế ngồi, loại khác (HS 94019099) đạt 40.51 triệu USD, giảm 12.4% so với năm 2022.
Ngoài ra , để đảm bảo nguồn nguyên liệu đảm bảo, tuân thủ đúng hiệp định FTA kí kết, chính phủ Việt Nam đã đưa ra các đề án rất rõ ràng nhằm phát triển rừng trồng gỗ lớn. Theo đó, đến năm 2030, tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn đạt khoảng 1 triệu ha, trong đó:
- Tại Vùng trung du và miền núi phía Bắc: 130,000-146,000 ha;
- Vùng đồng bằng sông Hồng: 6.000-9.000;
- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: 280,000-348,000;
- Vùng Tây Nguyên: 25,000-35,000;
- Vùng Đông Nam Bộ: 7,500-10,000;
- Vùng Tây Nam Bộ: 1,500- 2,000 ha.

Điều này tạo bàn đạp thuận lợi để nghành gỗ Việt Nam ngày một phát triển mạnh trên thế giới. Hạn chế tình trạng thiếu gỗ và phải nhập khẩu từ các nước châu Phi gây rủi ro về giấy tờ chứng minh nguồn gốc.
2. Chất lượng gỗ tốt
Việt Nam có 94 loại gỗ được cấp phép sản xuất và xuất khẩu, với nhiều chủng loại khác nhau đặc biệt là các loại cây có nguồn gốc nhiệt đới và cận nhiệt đới. Từ gỗ cứng như gỗ lim, gỗ căm xe, gỗ sồi, đến gỗ mềm như gỗ thông, gỗ keo. Nhiều loại gỗ ở Việt Nam có chất lượng cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế về độ bền, độ cứng và vẻ đẹp tự nhiên. Một vài ví dụ điển hình về thế mạnh và thành phẩm chủ yếu của một vài loại gỗ nổi tiếng tại Việt Nam.
Nhóm gỗ chủ yếu sản xuất nhiều nhất tại Việt Nam bao gồm:
- Gỗ keo (Acacia): Đây là loại gỗ rất phổ biến và được trồng nhiều ở Việt Nam để sản xuất gỗ công nghiệp như ván ép, pallet và nhiều sản phẩm nội thất khác.
- Gỗ thông (Pinus merkusii): Gỗ thông cũng là một trong những loại gỗ có sản lượng xuất khẩu lớn từ Việt Nam, được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp và xây dựng.
- Gỗ cao su: Cây cao su được khai thác sau khi kết thúc vòng đời trồng mủ, và được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như sản xuất gỗ nội thất, sàn gỗ và các sản phẩm khác.
- Gỗ sồi (Oak): Mặc dù không phải là loại gỗ chính của Việt Nam, nhưng gỗ sồi cũng được nhập khẩu và chế biến để sản xuất đồ nội thất và các sản phẩm cao cấp khác.

Ngoài ra, còn một số loại gỗ nổi tiếng khác, thích hợp tạo ra sản phẩm giá thành cao và chất lượng với một vài tiêu chí nổi bật. Ví dụ:
Chất lượng cao và độ bền:
- Gỗ giáng hương: Chất lượng cao, bền bỉ.
Sản phẩm: Bàn ghế, tủ quần áo. - Gỗ lim: Cứng, chịu lực tốt.
Sản phẩm: Cột nhà, sàn gỗ. - Gỗ cẩm lai: Chống mối mọt, độ bền cao.
Sản phẩm: Bàn ghế, tủ rượu.
Khả năng chế tác và thẩm mỹ cao:
- Gỗ gụ: Dễ chế tác, vân gỗ đẹp.
Sản phẩm: Tủ trang trí, kệ sách. - Gỗ pơ mu: Mềm, dễ chế tác, vân đẹp.
Sản phẩm: Đồ thủ công mỹ nghệ, tủ bếp. - Gỗ xoan đào: Dễ chế tác, vân đẹp.
Sản phẩm: Giường ngủ, bàn ăn.
Khả năng chống mối mọt và môi trường ẩm ướt:
- Gỗ căm xe: Rất cứng, chống mối mọt tốt.
- Sản phẩm: Sàn gỗ, cửa ra vào.
- Gỗ chò chỉ: Độ bền cao, chống mối mọt tốt.
- Sản phẩm: Đồ nội thất ngoài trời, cửa sổ.
- Gỗ táu: Độ bền cao, chống mối mọt tốt.
Sản phẩm: Sàn nhà, cột trụ.
Đặc tính sinh thái và bền vững:
- Gỗ keo: Trồng nhanh, cải tạo đất tốt.
Sản phẩm: Ván ép, đồ nội thất. - Gỗ bạch đàn: Sinh trưởng nhanh, cải tạo đất, chống xói mòn.
Sản phẩm: Bàn ghế, ván ép.
Giá trị kinh tế cao và quý hiếm:
- Gỗ trắc: Quý hiếm, giá trị cao, vân đẹp.
Sản phẩm: Đồ nội thất cao cấp, đồ trang trí. - Gỗ căm xe đen: Quý hiếm, độ bền cao.
Sản phẩm: Đồ nội thất sang trọng, bàn ghế. - Gỗ sồi đỏ: Giá trị cao, độ bền tốt.
Sản phẩm: Bàn ghế, tủ quần áo.
Ngoài ra, mây tre Việt Nam cũng rất được ưa chuộng. Những chiếc đĩa đựng hoa quả, bánh trái với đủ hình dạng, hoa văn; những chiếc hộp để bút, những chiếc túi xách xinh xắn được làm từ những sợi mây, sợi mét, được nhuộm màu tự nhiên và những hoa văn là kết tinh văn hóa truyền thống rất phù hợp xu hướng tiêu dùng xanh trên thế giới.
3. Giá cả cạnh tranh
Giá cả của gỗ Việt Nam thường được coi là cạnh tranh so với thế giới trong một số khía cạnh, đặc biệt là với nhóm sản phẩm thông dụng như nội thất phòng ngủ, phòng bếp, ghế nhồi nệm với 3 nhóm nguyên do chính:
Chi phí sản xuất
Có hơn 500,000 lao động đang làm việc cho các công ty chế biến và sản xuất gỗ. Trong đó lao động được đào tạo, làm việc ổn định chiếm 55-60%. Lực lượng lao động này đã làm chủ việc vận hành, sử dụng thiết bị, công nghệ mới, thay thế công việc do chuyên gia nước ngoài thực hiện trước đây. Mức lương bình quân cho mỗi công nhân trong nhóm này khoảng 354 USD/ tháng, mức lương cho các nghệ nhân làng nghề sẽ cao hơn tùy theo tay nghề nhưng duy trì trung bình ở khoảng 700 USD – 1,500 USD/ tháng. Nhìn chung, giá nhân công của Việt Nam so với giá nhân công của các nước như Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc ở mức thấp.
Còn lại là lao động giản đơn theo mùa vụ chiếm khoảng 40-45%. Chủ yếu là nhóm lao động ở khu vực nông thôn miền núi trực tiếp đóng góp công sức để gây trồng tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất chế biến lâm sản. Chi phí cho nhóm lao động này thường sẽ thấp hơn từ 20% -30%. Chi phí sản xuất thấp cùng nguyên liệu đầu vào tự chủ, Việt Nam nắm rất nhiều lợi thế được coi là động lực quan trọng hút đầu tư vào trong ngành gỗ, giúp ngành mở rộng phát triển trong những năm vừa qua.
Hiệp định thương mại
Tính đến tháng 5 năm 2024, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán tổng cộng là 19 Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement- FTA) . Trong đó, 16 FTA đã ký kết và thực thi và 3 FTA đang đàm phán. 16 FTA này tạo quan hệ kết nối cho Việt Nam với hơn 60 đối tác, phủ rộng khắp các châu lục, với tổng GDP chiếm gần 90% GDP toàn cầu.
Không những thế, Việt Nam còn có quan hệ thương mại với 224 đối tác và quan hệ hợp tác với hơn 300 tổ chức quốc tế, đã ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Tất cả những điều này đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước dẫn đầu khu vực về tham gia các khuôn khổ hợp tác kinh tế song phương và đa phương.
Việc tham gia các FTAs giúp loại bỏ đến 90% thuế thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam khi xuất khẩu ở hơn 50 đối tác thương mại lớn nhất toàn cầu. Sản phẩm gỗ Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều thị trường xuất khẩu hơn nữa và gia tăng thị phần các thị trường khó tính như Nhật Bản, châu u, Mỹ và các nền kinh tế phát triển khác.
Đặc biệt hơn, Các FTA thường có các quy định về giảm thiểu rủi ro thương mại, bảo vệ nhà đầu tư và bảo vệ tài sản trí tuệ, giúp doanh nghiệp gỗ Việt Nam tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế một cách bền vững hơn.
4. Năng lực sản xuất phục vụ khách hàng
Tính đến tháng 1/2024, Việt Nam có khoảng 6.000 doanh nghiệp sản xuất, chế biến gỗ, trong đó có hơn 5,000 doanh nghiệp tư nhân, 250 doanh nghiệp nhà nước và hơn 660 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Tăng trưởng hơn 500% so với giai đoạn 2006 khi thời điểm đó, Việt Nam chỉ có khoảng 1,200 doanh nghiệp chế biến gỗ hoạt đồng trên thị trường.
Các doanh nghiệp gỗ Việt Nam ngày càng chú trọng vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào công nghệ tiên tiến và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng sản xuất, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động. Điều này đã giúp các doanh nghiệp sản xuất được nhiều mặt hàng cao cấp, có chất lượng, đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng trong nước và thế giới.
Các sản phẩm gỗ Việt Nam có thể được tùy chỉnh để đáp ứng các yêu cầu cụ thể, tăng tính hấp dẫn đối với các nhà nhập khẩu. Các doanh nghiệp sản xuất gỗ ở Việt Nam tham gia vào nhiều loại hình sản xuất khác nhau, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau:
Chế biến gỗ và sản xuất đồ nội thất
Đây là lĩnh vực chủ đạo của ngành gỗ Việt Nam. Các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nội thất như bàn, ghế, giường, tủ và các đồ dùng gia đình khác. Nhiều doanh nghiệp cũng sản xuất đồ nội thất theo thiết kế riêng của khách hàng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường trong nước và quốc tế

Sản xuất ván ép và ván nhân tạo
Các sản phẩm ván ép, ván MDF, HDF và ván dăm là những sản phẩm quan trọng trong ngành chế biến gỗ. Chúng được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và sản xuất đồ nội thất. Ngành công nghiệp này đòi hỏi công nghệ sản xuất hiện đại để đảm bảo chất lượng và độ bền của sản phẩm
Chế biến gỗ xuất khẩu
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn trên thế giới. Các doanh nghiệp tham gia vào sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ như sàn gỗ, gỗ xẻ, và các sản phẩm gỗ tinh chế để xuất khẩu sang các thị trường quốc tế như Mỹ, EU, Nhật Bản, và Hàn Quốc
Sản xuất đồ trang trí và mỹ nghệ
Các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ và trang trí như tượng gỗ, khung tranh, và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác cũng là một phần quan trọng của ngành chế biến gỗ. Các doanh nghiệp này thường tập trung vào các sản phẩm có giá trị nghệ thuật và thủ công cao, phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu
Chế biến gỗ nguyên liệu
Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này tập trung vào khai thác, chế biến và cung cấp nguyên liệu gỗ cho các nhà máy chế biến gỗ khác. Điều này bao gồm cả việc sản xuất gỗ xẻ, gỗ tròn và các loại gỗ nguyên liệu khác
Sản xuất ván sàn và vật liệu xây dựng từ gỗ
Ngoài đồ nội thất, các doanh nghiệp cũng sản xuất các vật liệu xây dựng từ gỗ như ván sàn, gỗ ốp tường và trần nhà. Những sản phẩm này phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao để đảm bảo độ bền và an toàn trong xây dựng.
Ngoài ra, Việt Nam hiện có khoảng hơn 340 làng nghễ gỗ phân bố rải rác khắp cả nước. Mỗi làng nghề có khoảng 2,000 hộ gia đình tham gia vào hoạt động chế biến và sản xuất gỗ. Các làng nghề này được duy trì và truyền đời qua nhiều thế hệ, góp phần duy trì chất lượng và mẫu mã đặc trưng của từng làng nghề.
Theo lịch sử hình thành làng nghề thì số làng nghề chế biến gỗ được hình thành trên 100 năm chiếm 21.7%, hình thành từ 30 năm đến dưới 100 năm là 29.9%, mới được hình thành từ 30 năm đến dưới 10 năm chiếm 37.0%, còn lại 11.4% là các làng nghề chế biến gỗ mới được hình thành trong 10 năm gần đây. Tay nghề của nhóm các nghệ nhân làng nghề từ 30 năm trở lên là cực kỳ cao.
Tay nghề của nhóm các nghệ nhân làng nghề từ 30 năm trở lên là cực kỳ cao. Nhiều người trong số họ sống cả đời với nghề, từ khi chập chững biết đi đã được cha mẹ ông bà truyền dạy cách điêu khắc.
Đọc thêm trong bài viết: Từ nghề thủ công truyền thống đến thương hiệu quốc tế: Hành trình của nghề đan mây tre đan Việt Nam
5. Thủ tục – quy trình xuất khẩu gỗ thuận lợi
Đơn giản hóa thủ tục hải quan thông qua các hiệp định thương mại tự do (FTAs) đã giúp quy trình xuất khẩu gỗ của Việt Nam trở nên thuận lợi hơn. Dưới đây là những điểm nổi bật về cách các FTAs đơn giản hóa thủ tục hải quan và làm cho việc xuất khẩu gỗ trở nên dễ dàng hơn:
Sử Dụng Công Nghệ Thông Tin và Quản Lý Rủi Ro
- Hệ thống Hải quan Điện tử: Các FTAs khuyến khích việc áp dụng công nghệ thông tin, cho phép doanh nghiệp nộp và xử lý các tờ khai hải quan trực tuyến, giảm thiểu thời gian và chi phí xử lý
- Hệ Thống Quản Lý Rủi Ro: Giúp tập trung kiểm tra vào các lô hàng có rủi ro cao, trong khi các lô hàng có rủi ro thấp được thông quan nhanh chóng.
- Khai báo trước: Các FTAs cho phép doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan trước khi hàng hóa đến cảng hoặc biên giới. Điều này giúp giảm thời gian thông quan tại cửa khẩu và giúp hàng hóa lưu thông nhanh chóng hơn
Một Cửa Quốc Gia (NSW) và Một Cửa ASEAN (ASW)
- NSW: Cơ chế này cho phép doanh nghiệp xử lý các thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu một cách tập trung và đồng bộ, giảm thiểu sự chồng chéo và phức tạp trong các thủ tục hành chính
- ASW: Giúp các doanh nghiệp xử lý thủ tục hải quan nhanh chóng khi xuất khẩu sang các nước ASEAN, giảm thời gian và chi phí liên quan đến quy trình hải quan
Công Khai Thông Tin và Đối Thoại Với Doanh Nghiệp
Các cơ quan hải quan công khai các quy định, hướng dẫn và thông tin liên quan, đồng thời tổ chức các buổi đối thoại thường xuyên với doanh nghiệp để lắng nghe và giải quyết kịp thời các vướng mắc.
Hài hòa hóa tiêu chuẩn và quy trình
Các FTAs thúc đẩy việc hài hòa hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình hải quan giữa các quốc gia thành viên. Điều này giúp giảm thiểu sự khác biệt trong các yêu cầu và quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa qua nhiều thị trường khác nhau

Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng triển khai rất nhiều chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nghành gỗ. Dưới đây là một số chính sách chính:
Ưu đãi thuế
Chính phủ đã áp dụng các chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp chế biến gỗ, bao gồm giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị và nguyên liệu cần thiết cho sản xuất.
Hỗ trợ tài chính
Các gói hỗ trợ tài chính và tín dụng ưu đãi được cung cấp cho các doanh nghiệp trong ngành gỗ nhằm giúp họ đầu tư vào công nghệ, nâng cấp thiết bị và mở rộng sản xuất. Chương trình cho vay đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản có vốn tín dụng khoảng 15.000 tỷ đồng (cao hơn dự kiến đặt ra gói 10.000 tỷ đồng), thời gian triển khai đến hết ngày 30/6/2024. Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam, thấp hơn tối thiểu từ 1-2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.
6. Hệ Thống Giao Thông và Cảng Biển Phát Triển
Việt Nam giáp với nhiều quốc gia lớn như Trung Quốc về phía bắc, Lào và Campuchia về phía tây. Vị trí vừa gắn liền với lục địa Á – u vừa tiếp giáp với Thái Bình Dương, lại nằm trên ngã tư đường hàng hải, hàng không quốc tế khi là trung tâm của khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó với vị trí của Việt Nam lại là cửa ngõ ra biển của các nước Lào, Đông Bắc Campuchia và Thái Lan, Tây Nam Trung Quốc. Tất cả tạo điều kiện cho Việt Nam nằm trong khu vực có nền kinh tế phát triển sôi động, là điều kiện để hội nhập, hợp tác, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý…với các nước. Hàng hoá sản xuất tại Việt Nam được phân bổ phù hợp giữa đường biển, đường bộ và đường hàng không một cách hợp lý nhằm tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí.
Hệ thống giao thông đường bộ
Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2022 của Bộ Công Thương, hiện nay, tổng chiều dài đường bộ của cả nước là 595.201 km, trong đó đường bộ quốc gia (quốc lộ, cao tốc) là 25.560 km. Dự án cao tốc Bắc-Nam phía đông đã hoàn thành 9/11 dự án thành phần giai đoạn 2017-2020, nâng tổng số đường cao tốc lên hơn 2.000km. Hiện tại, Việt Nam đang đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng các nước có đường cao tốc lớn và hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á, gần ngang bằng với Malysia ở vị trí thứ 2.
Hệ thống cảng hàng không
Việt Nam có 22 cảng hàng không đang khai thác gồm 9 cảng hàng không quốc tế và 13 cảng hàng không nội địa. Hệ thống mạng cảng hàng không toàn quốc phân bổ tương đối hài hòa, hợp lý, đảm bảo khả năng tiếp cận của 96% dân số trong bán kính 100km, cao hơn mức trung bình của thế giới (75%), tương đương các nước phát triển và trong khu vực.
Bên cạnh đó, cảng Hàng không quốc tế Long Thành đang trong quá trình xây dựng. Long Thành là sân bay cấp 4F hoặc cao hơn theo tiêu chuẩn ICAO, được khởi công xây dựng ngày 05/01/2021 và dự kiến đi vào hoạt động từ cuối năm 2025. Đến đầu năm 2024, hơn 2.300 ha mặt bằng cho dự án thành phần 1 đã hoàn tất. Bứt tốc về tiến độ, hầu hết các hạng mục đều đang bám sát yêu cầu của chính phủ, dự báo Long Thành sẽ đáp ứng số lượng hàng hóa công suất 5 triệu tấn/năm và được kỳ vọng sẽ là một Cảng trung chuyển hàng không của Việt Nam và quốc tế.
Giao thông đường biển

Vùng biển lớn Với hơn 3,260 km bờ biển ven biển dọc khắp quốc gia. Theo Cục Hàng hải Việt Nam, Việt Nam hiện có 286 bến cảng, phân bố theo 5 nhóm cảng biển, tổng chiều dài cầu cảng hơn 96km, đáp ứng được lượng hàng thông qua hơn 706 triệu tấn. Các địa phương có số lượng bến cảng nhiều nhất lần lượt là: Hải Phòng (50 bến), Bà Rịa – Vũng Tàu (48 bến), TP.HCM (40 bến), Đồng Nai (18 bến), Khánh Hòa và Cần Thơ (17 bến)…
2 cụm cảng biển lớn là TP Hải Phòng và TPHCM đều nằm trong top 50 cảng container lớn trên thế giới. Về tuyến vận tải, Việt Nam hiện nay đã thiết lập được 32 tuyến vận tải biển, trong đó 25 tuyến vận tải quốc tế và 7 tuyến vận tải nội địa, trong đó ngoài các tuyến châu Á, khu vực phía bắc đã khai thác 2 tuyến đi Bắc Mỹ, phía nam đã hình thành được 16 tuyến đi Bắc Mỹ và châu u; đứng vị trí thứ 3 khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Malaysia và Singapore
Đến năm 2023, tổng khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt nam đã đạt 756.8 triệu tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó hàng container ước đạt 24.7 triệu TEUS. Việt Nam cũng có khoảng 1,500 tàu biển đăng ký trong sổ đăng ký tàu biển quốc gia, với tổng trọng tải trên 13.7 triệu tấn, tổng dung tích trên 7.2 triệu GT. Trong đó, có 977 tàu vận tải với tổng trọng tải trên 11.1 triệu tấn, tổng dung tích trên 6.6 triệu GT.
Ngoài ra, các siêu cảng lớn đang được hình thành. Ví dụ như siêu cảng Cần Giờ tại Thành Phố Hồ Chí Minh, có chiều dài bến chính và bến sà lan lần lượt là 6,8km và 1,9km, quy mô tiếp nhận tàu mẹ trọng tải lên đến 250.000 DWT, tàu trung chuyển trọng tải từ 10.000-65.000 DWT. Với tổng mức đầu tư 5,5 tỷ USD, dự kiến cảng Cần Giờ sẽ được ra mắt vào năm 2027.
Việc tập trung đầu tư mạnh các cảng biển cùng với giá giúp các nhà nhập khẩu giảm đáng kể áp lực về chi phí và mạnh dạn hơn trong kế hoạch đặt hàng trong tương lai. Ngoài ra, tình hình chính trị ổn định của khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng làm cho Việt Nam trở thành một lựa chọn hấp dẫn cho hoạt động xuất khẩu và vận chuyển hàng hóa quốc tế, đặc biệt là các sản phẩm từ gỗ.