Xuất Khẩu Trung Quốc Giai Đoạn 5 Tháng Đầu Năm 2025

Kể từ khi có các tuyên bố thuế quan của tổng thống Donald Trump, đặc biệt là các chính sách thuế quan nhắm vào Trung Quốc, xuất khẩu của quốc gia này sang Hoa Kỳ đã giảm đến 10% chỉ trong giai đoạn 5 tháng đầu năm. Tuy nhiên, tổng quan xuất khẩu năm 2025 của Trung Quốc tính đến thời điểm hiện tại lại tăng đến 7.2%. Cần phải biết là 10 năm trước đó, Hoa Kỳ luôn là thị trường lớn nhất của Trung Quốc, dù vậy, họ đã luôn có những chuẩn bị kĩ càng cho bất kỳ kịch bản nào có thể xảy ra. Cho thấy tầm nhìn chính xác của các nhà lãnh đạo quốc gia này.
Ở khu vực Châu Âu, nhờ việc đầu tư rất nhiều vào cảng biển Hamburg, giúp Đức trở thành một trong những điểm trung chuyển chính của Trung Quốc trong việc chuyển đổi những mặt hàng không thể xuất sang Mỹ qua châu Âu tiêu thụ, kim ngạch xuất khẩu sang châu Âu của Trung Quốc tăng đến 8%, sang Đức tăng mạnh đến gần 12%.
Khu vực Đông Nam Á là khu vực quan trọng thứ 2 của Trung Quốc suốt 5 năm gần đây vì quy mô dân số và vị thế địa lý. Kim ngạch xất khẩu của Trung Quốc sang khu vực này 5 tháng đầu năm 2025 đạt 3,245 ngàn tỉ USD, Trung Quốc cũng nhập khẩu 1,895 ngàn tỉ USD, tăng trưởng 14.3% xuất khẩu và 2.3% nhập khẩu so với giai đoạn cùng kỳ. Trong nhóm các quốc gia này, tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất thuộc về Việt Nam ( tăng 21%), Thái Lan (tăng 23.4%) và Indonesia ( tăng 16.6%). Tuy nhiên, nếu Trung Quốc cũng tăng nhập khẩu từ Thái Lan lên 10% và Indonesia lên 9.3% để đảm bảo thặng dư thương mại thì xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc lại giảm đến 4%, giảm sâu nhất trong những đối tác chính tại khu vực châu Á. Điều này tạo ra thặng dư thương mại ngày càng lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc và càng làm tăng thêm vai trò lệ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào quốc gia này.
Kim Ngạch Xuất Khẩu Sang Trung Quốc 6 Tháng 2025 Của Thái Lan

Trong suốt tháng 1–5 năm 2025, giá trị xuất khẩu của Thái Lan sang Trung Quốc lên tới 576.745 triệu baht, tăng 20,26% so với cùng kỳ năm ngoái. Về xuất khẩu các sản phẩm của Thái Lan sang Trung Quốc, các sản phẩm xuất khẩu hàng đầu bao gồm Máy tính, Thiết bị và Linh kiện (chiếm 17% thị phần, tăng trưởng 20%), các loại trái cây ( chiếm 15% thị phần, giảm 18%), các sản phẩm từ gỗ ( chiếm 10% thị phần, tăng trưởng 64%). Ngoài top 3 nhóm sản phẩm này, các sản phẩm tăng trưởng mạnh khác của hàng Thái Lan qua Trung Quốc còn có Đồng và các sản phẩm từ đồng ( chiếm 3.58% thị phần, tăng 23%), Sản phẩm nhôm ( chiếm 1.77% thị phần, tăng 47.84%), Sản phẩm lúa mì và các thực phẩm chế biến khác ( chiếm 1.41% thị phần, tăng 175%)
Kim Ngạch Xuất Khẩu Sang Trung Quốc 6 Tháng 2025 Của Việt Nam
Về xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Trung Quốc.
Các nhóm hàng tăng trưởng mạnh nhất gồm có:
– Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Đạt 8.2 tỉ USD, tăng 36%
– Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác: 2.3 tỉ USD, tăng 46%
– Cao su: 892.5 triệu USD, tăng 24%
– Hạt điều: 525.57 triệu USD, tăng 44.86%
– Gạo: 226 triệu USD, tăng 80%
– Cà phê: 129 triệu USD, tăng 24.55%
– Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận: Đạt 76.77 triệu USD, tăng 32%
Các nhóm hàng suy giảm mạnh nhất:
– Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: Đạt 1.7 tỉ USD, giảm 28%
– Hàng rau quả: 1.6 tỉ USD, giảm 24%
– Gỗ và sản phẩm gỗ: 875.8 triệu USD, giảm 16.58%
– Chất dẻo nguyên liệu: 116 triệu USD, giảm 38.72%
– Giấy và các sản phẩm từ giấy: 94.6 triệu USD, giảm 50%
Kim Ngạch Nhập Khẩu Từ Trung Quốc 6 Tháng 2025 Của Việt Nam
Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 84,7 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2025, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm xấp xỉ 40% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của cả nước (212,2 tỷ USD) trong nửa đầu năm

Về nhập khẩu hàng hoá Việt Nam sang Trung Quốc.
Các nhóm hàng tăng trưởng mạnh nhất gồm có:
– Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Đạt 23.5 tỉ USD, tăng 47%
– Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác: Đạt 17.7 tỉ USD, tăng 35.57%
– Sản phẩm từ chất dẻo: Đạt 3 tỉ USD, tăng 31%
– Sản phẩm từ kim loại thường khác: Đạt 1.8 tỉ USD, tăng 54%
– Kim loại thường khác: Đạt 1.750 tỉ USD, tăng 37.68%
– Linh kiện, phụ tùng ô tô: Đạt 969.7 triệ USD, tăng 78%
– Dây điện và dây cáp điện: Đạt 1.480 tỉ USD, tăng 54%
– Ô tô nguyên chiếc các loại: Đạt 746 triệu USD, tăng 64%
Nhóm hàng suy giảm mạnh nhất:
– Sắt thép các loại: Đạt 2.8 tỉ USD, giảm 23%
– Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh: Đạt 446 triệu USD, giảm 22%
– Thức ăn gia súc và nguyên liệu: Đạt 166 triệu USD, giảm 22%
– Phương tiện vận tải khác và phụ tùng: 99.4 triệu USD, giảm 38%
Bức tranh toàn cảnh về FDI toàn cầu và sự trỗi dậy của ASEAN
Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu đang đối mặt với những thách thức đáng kể do sự phức tạp của các yếu tố kinh tế và địa chính trị. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới 2025, dòng vốn FDI toàn cầu đã giảm 2% xuống còn 1,3 nghìn tỷ USD vào năm 2023 và dự kiến sẽ tiếp tục giảm sâu hơn 11% xuống còn 1,5 nghìn tỷ USD vào năm 2024. Triển vọng cho năm 2025 cũng không mấy khả quan, với dự báo điều chỉnh giảm mạnh do căng thẳng thương mại leo thang, phân mảnh địa chính trị và biến động kinh tế dai dẳng.
Không chỉ vậy, tài chính dự án quốc tế – yếu tố then chốt cho cơ sở hạ tầng và phát triển – cũng chứng kiến mức giảm mạnh 26% vào năm 2024. Sự sụt giảm này tác động đặc biệt nghiêm trọng đến các thị trường mới nổi, nơi chi phí vốn gia tăng và nhận thức rủi ro cao hơn đang cản trở các dự án quan trọng.
Trái ngược hoàn toàn với xu hướng giảm sút của FDI toàn cầu, khu vực ASEAN đã chứng tỏ khả năng phục hồi ấn tượng và tiếp tục thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài đáng kể. Năm 2024, dòng vốn FDI vào các quốc gia ASEAN đã tăng 10%, đạt mức kỷ lục 225 tỷ USD. Con số này nối tiếp mức kỷ lục 230 tỷ USD vào năm 2023, đánh dấu năm tăng trưởng thứ ba liên tiếp bất chấp suy thoái kinh tế toàn cầu.
Khả năng phục hồi này đã thu hút đáng kể đầu tư nước ngoài, bao gồm cả từ Trung Quốc, quốc gia đang tìm kiếm các cơ hội tăng trưởng đáng tin cậy và đa dạng hóa danh mục đầu tư, tránh xa các thị trường biến động hơn. Trung Quốc là nguồn FDI lớn thứ ba tại ASEAN vào năm 2023, với tổng vốn đầu tư đạt 17 tỷ đô la, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN đang có xu hướng tăng, từ mức dưới 4 tỷ đô la vào năm 2010.
ASEAN – Điểm Đến Chiến Lược Đầu Tư Nước Ngoài Của Trung Quốc
Các công ty Trung Quốc đang ngày càng mở rộng sự hiện diện tại ASEAN, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp kỹ thuật số, công nghệ tiên tiến và sản xuất. Động thái này được thúc đẩy bởi việc tìm kiếm thị trường mới, cạnh tranh ít gay gắt hơn so với Trung Quốc, và những lợi ích của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc. Các khoản đầu tư đáng chú ý bao gồm xe điện, pin và các ngành công nghiệp liên quan khác, như đã thấy ở Malaysia, và điện tử ở các nước như Malaysia và Việt Nam.
Chiến lược “Trung Quốc + 1”, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài đa dạng hóa chuỗi cung ứng bằng cách đầu tư vào ASEAN cùng với Trung Quốc, cũng đã góp phần vào xu hướng này. Bản thân các công ty Trung Quốc đang chuyển dịch sản xuất sang Đông Nam Á để giảm thiểu rủi ro địa chính trị và rào cản thuế quan. Động lực này đang dẫn đến chuỗi cung ứng phân tán trên khắp khu vực, với các quốc gia như Việt Nam và Indonesia chứng kiến tăng trưởng xuất khẩu nhanh chóng và FDI đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất.
Mặc dù dòng vốn FDI tổng thể của Trung Quốc đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, phản ánh những bất ổn kinh tế toàn cầu và nỗ lực giảm thiểu rủi ro của một số doanh nghiệp nước ngoài, nhưng đầu tư ra nước ngoài của nước này, đặc biệt là vào ASEAN, vẫn mạnh mẽ. Sự chuyển hướng chiến lược này làm nổi bật tầm quan trọng ngày càng tăng của ASEAN như một cực tăng trưởng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu và là một điểm đến quan trọng cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc.
Sức hấp dẫn ngày càng tăng của Việt Nam trong nửa đầu năm 2025

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm các năm 2021-2025 của Việt Nam (tỷ USD)
Trong 6 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã thu hút FDI từ 92 quốc gia và vùng lãnh thổ, cho thấy sức hấp dẫn mạnh mẽ của đất nước.
- Singapore tiếp tục là đối tác hàng đầu với tổng vốn đầu tư hơn 4,6 tỷ USD, chiếm hơn 21,4% tổng vốn đầu tư. Tuy nhiên, con số này đã giảm 24,8% so với cùng kỳ năm trước.
- Hàn Quốc vươn lên vị trí thứ hai với hơn 3 tỷ USD, chiếm gần 14,3% tổng vốn đầu tư và tăng gấp đôi so với cùng kỳ. Đáng chú ý, Hàn Quốc cũng dẫn đầu về số lượt điều chỉnh vốn (18,5%) và số giao dịch GVMCP (26,5%).
- Các đối tác lớn khác bao gồm Trung Quốc (2,55 tỷ USD), Nhật Bản (2,15 tỷ USD) và Malaysia (1,59 tỷ USD). Đặc biệt, vốn đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng gần 50% so với cùng kỳ, chỉ đứng sau Hàn Quốc về tốc độ tăng trưởng. Trung Quốc cũng là quốc gia dẫn đầu về số dự án đầu tư mới, chiếm 30,1%, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo.
Các quốc gia ASEAN đang đứng trước một nhiệm vụ phức tạp: duy trì sự trung lập trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này đòi hỏi một “hành động cân bằng” tinh tế, vừa phải đối phó với áp lực chọn phe, vừa phải tìm kiếm các cơ hội đầu tư có lợi từ cả hai siêu cường.
Hiện tại, FDI ra nước ngoài của Trung Quốc đang phải đối mặt với sự giám sát ngày càng tăng trên toàn cầu. Các trường hợp đầu tư bị trì hoãn hoặc thậm chí bị chặn ở các quốc gia như Anh, Mỹ, Séc và Niger đã cho thấy một xu hướng rõ ràng: các quốc gia tiếp nhận đầu tư ngày càng viện dẫn các mối lo ngại về an ninh quốc gia, vi phạm lao động hoặc trợ cấp không công bằng. Điều này nhấn mạnh rằng các công ty Trung Quốc không thể tự động được chào đón hoặc áp dụng chính sách mở cửa ở mọi thị trường như trước đây.
Một thách thức kinh tế khác đối với ASEAN là sự đổ bộ ồ ạt của hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc, bao gồm cả thông qua các nền tảng thương mại điện tử. Lượng hàng hóa này đang ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường việc làm và các ngành sản xuất nội địa, khiến một số ngành trong nước gần như không thể cạnh tranh. Áp lực này đặc biệt nghiêm trọng trong các ngành mà Trung Quốc sở hữu lợi thế so sánh lớn nhờ vào năng lực công nghệ và quy mô sản xuất. Nguy cơ phi công nghiệp hóa sớm ở ASEAN là một mối lo ngại nghiêm trọng nếu khu vực này bị áp đảo bởi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, cản trở sự phát triển của các ngành công nghiệp non trẻ.
Xem thêm: