Thủy sản Việt Nam: Xuất khẩu tỷ đô, làm nên thương hiệu quốc gia

Với đường bờ biển trải dài hơn 3.260 km, Việt Nam đã khẳng định vị thế là một nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới, đứng thứ 2 về tôm và thứ 8 về cá. Ngành này đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của đất nước, tạo ra gần 9 tỷ đô la hàng năm và chiếm 4-5% GDP của quốc gia. Bất chấp những thách thức kinh tế gần đây, ngành thủy sản của Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, được thúc đẩy bởi ngành nuôi trồng thủy sản mạnh mẽ và các thị trường xuất khẩu đa dạng bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc.
Nội dung chính

Do điều kiện tự nhiên thuận lợi với đường bờ biển dài tới 3260km dọc khắp đất nước, nguồn thuỷ hải sản của Việt Nam là cực kỳ dồi dào và đóng góp quan trọng cho nhu cầu tiêu dùng toàn thế giới. Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu hải sản hàng đầu thế giới, đứng thứ 8 về xuất khẩu cá và thứ 2 thế giới về xuất khẩu tôm. Với giá trị xuất khẩu đạt gần 9 tỷ USD/năm, thủy sản là ngành kinh tế quốc dân mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp 9-10% tổng kim ngạch xuất khẩu, đứng thứ 5 về giá trị xuất khẩu (sau điện thoại, dệt may, điện tử và giày dép) và tạo ra 4-5% GDP

Hành trình xuất khẩu của ngành thuỷ sản Việt Nam

Ngành chế biến thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ 1981-1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu hải sản, chủ yếu sang Nhật Bản. Giai đoạn 1995-2002 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh sau khi Mỹ bỏ cấm vận, với kim ngạch từ 550 triệu USD năm 1995 tăng lên 1.4 tỷ USD năm 2000.

Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu vượt 2 tỷ USD, và lần đầu tiên Việt Nam lọt vào top 10 quốc gia xuất khẩu hải sản hàng đầu thế giới. Đến 2010, kim ngạch đạt 5.03 tỷ USD, xuất khẩu sang 162 thị trường. Năm 2014 đạt kỷ lục 8 tỷ USD, nhờ mở rộng thị trường sang Nga.

Tuy nhiên, năm 2015, kim ngạch giảm 15% còn 6.72 tỷ USD do các vụ kiện chống phá giá tại Mỹ. Từ 2016-2020, ngành thủy sản tăng trưởng ổn định, đạt 10.5 tỷ USD năm 2022 nhờ chính sách phát triển bền vững và tái cơ cấu ngành. Năm 2023, do tình hình kinh tế khó khăn và giá tàu biển tăng, kim ngạch giảm còn 8.7 tỷ USD, dự kiến phục hồi lên 9.5 tỷ USD vào năm 2024.

Thị trường xuất khẩu chính của thuỷ sản Việt Nam

Thị trường hàng đầu – Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia nhập khẩu hải sản lớn nhất của Việt Nam, với mức tiêu thụ trung bình 8kg hải sản/người/năm. Tăng trưởng thương mại hải sản giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu từ 1995 sau khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ. Từ năm 2000 đến 2004, khối lượng hải sản xuất khẩu tăng gấp 5 lần, từ 130 nghìn tấn lên 592 nghìn tấn.

Mỹ nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như tôm đông lạnh, cá phi lê, cá hộp. Từ 2001, Mỹ đã vượt Nhật Bản để trở thành thị trường lớn nhất của Việt Nam. Giai đoạn 2011-2020, Mỹ nhập khẩu khoảng 1.3-1.6 tỷ USD hải sản mỗi năm, với 65% là tôm và 23% là cá.

Năm 2021, do nhu cầu tăng cao vì Covid, xuất khẩu hải sản Việt Nam sang Mỹ đạt 2 tỷ USD, bao gồm tôm, cá tra và cá ngừ. Tuy nhiên, kim ngạch này giảm còn 1.5 tỷ USD vào năm 2023. Đến tháng 10/2024, xuất khẩu đạt 1.5 tỷ USD, dự kiến cả năm đạt 1.85 tỷ USD, tăng 19% so với 2023.

Đối tác lâu đời và đứng thứ 2 về xuất khẩu – Nhật Bản

Nhật Bản luôn cạnh tranh sát sao với Mỹ trong nhập khẩu hải sản Việt Nam, với mức chênh lệch chỉ vài chục đến vài trăm triệu USD. Người Nhật tiêu thụ trung bình 70kg thủy sản/người/năm, cao nhất thế giới, chủ yếu nhập tôm, cá, và mực.

Xuất khẩu tôm sang Nhật ổn định ở mức 1-1.3 tỷ USD từ 2011-2021, tăng lên 1.7 tỷ USD năm 2022 và giảm còn 1.5 tỷ USD năm 2023. Việt Nam hiện là nhà cung cấp tôm lớn nhất cho Nhật, chiếm 23.7% thị phần, vượt xa các nước khác nhờ CPTPP giúp thuế suất về 0%.

Thị phần tăng mạnh nhất – Trung Quốc

Trung Quốc, dù là nhà xuất khẩu hải sản lớn nhất, vẫn nhập khẩu nhiều hải sản do dân số đông. Từ 2011-2017, giá trị nhập khẩu từ Việt Nam tăng 5 lần, đạt 1 tỷ USD vào 2017. Việt Nam là nhà cung cấp cá thịt trắng lớn thứ 2 cho Trung Quốc, chiếm 11% thị phần.

Từ 2019-2020, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Trung Quốc đạt 1.2 tỷ USD, nhưng giảm còn 976 triệu USD năm 2021 do Covid, sau đó tăng lên 1.57 tỷ USD năm 2022. Năm 2023, kim ngạch giảm nhẹ còn 1.34 tỷ USD. Trong 10 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu tôm sang Trung Quốc đạt 676 triệu USD, tăng 31%, với tôm hùm chiếm 298 triệu USD, tăng 157%.

Các sản phẩm xuất khẩu chính của hải sản Việt Nam

Năm 2023, tôm là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, đạt hơn 3,3 tỷ USD (38% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản), với sản lượng 384 ngàn tấn.

Cá tra đứng thứ hai, đạt 1,8 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2022, chiếm 20% tổng kim ngạch. Trong đó, cá tra phi-lê đông lạnh đạt 1,49 tỷ USD.

Cá đông lạnh, đặc biệt là cá ngừ, đứng thứ ba với kim ngạch 1 tỷ USD. Xuất khẩu cá ngừ đạt 852 triệu USD, tập trung vào các thị trường Mỹ, EU, Israel, Canada, và Nga.

Các sản phẩm khác bao gồm: mực (61 ngàn tấn), bạch tuộc (42 ngàn tấn), chả cá (142 ngàn tấn), và hàu (7 ngàn tấn, 14 triệu USD, tăng 60%).

Tổng quan tình hình xuất khẩu một số sản phẩm trong giai đoạn 2023 – 2024:

  • Tôm đông lạnh (HS: 0306, 0000, 1605, v.v.): 75.699 lô hàng từ 1.433 nhà xuất khẩu đến gần 4.000 người mua
  • Cá tra và cá ngừ: 178.140 lô hàng từ gần 6.000 nhà xuất khẩu đến hơn 11.000 người mua trên toàn thế giới
  • Phi lê cá (HS 0304): Phục vụ gần 1.000 người mua trên toàn cầu với chất lượng và độ tin cậy nhất quán

Khai thác và nuôi trồng hải sản ở Việt Nam

Khai thác hải sản 

Trong 30 năm qua, ngành khai thác thủy sản Việt Nam tăng trưởng trung bình khoảng 5% mỗi năm, đạt 3,7 triệu tấn vào năm 2019. Tuy nhiên, phần lớn tàu cá có công suất dưới 90 mã lực và chủ yếu đánh bắt ven bờ, với sản lượng thấp và đa loài. Ngư dân sử dụng các phương pháp đánh bắt như lưới rê, lưới vây, câu tay, và lưới kéo.

 

Việt Nam có hơn 2.000 loài cá, với 70% thuộc vùng biển nhiệt đới và 30% thuộc vùng cận nhiệt đới. Các vùng khai thác chủ yếu là các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, đóng góp 80% tổng sản lượng.

Loài cá ngừ, đặc biệt là cá ngừ vằn, cá ngừ mắt to và cá ngừ vây vàng, là những loài đánh bắt xa bờ quan trọng. Ngoài cá, Việt Nam cũng khai thác nhiều loài giáp xác như tôm, cua và các loại nhuyễn thể như mực và bạch tuộc.

Nuôi trồng hải sản 

Việt Nam cũng phát triển mạnh ngành nuôi trồng thủy sản, với sản lượng chủ yếu từ cá nước ngọt và tôm. Các loài nuôi trồng chính gồm cá tra, tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm sản xuất thủy sản lớn nhất, chiếm 70% tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước, chủ yếu tập trung vào cá tra và tôm. Khu vực miền Bắc nuôi nhiều cá nước ngọt và nuôi trồng kết hợp với trồng lúa, trong khi miền Trung nổi bật với nuôi thâm canh tôm và cá lồng biển.

Tổng sản lượng nuôi trồng của cả nước đạt khoảng 3 triệu tấn mỗi năm, trong đó tôm và cá tra là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực.

So sánh hải sản Việt Nam với các quốc gia khác

Về tôm, sản phẩm chính của Việt Nam. Giá tôm Việt Nam thường cao hơn tôm từ Ấn Độ và Ecuador từ 20 -30%. Ở Ấn Độ, tôm thẻ chân trắng loại 40 con/kg giá chỉ 4.52 USD trong khi Việt Nam là 5.51 USD. 

Còn tôm Ecuador, loại 40 con/kg có giá 4.13 USD/kg và loại 100 con/kg có giá chỉ 2,44 USD/kg trong khi loại 100 con/kg của Việt Nam là 3,660 USD/kg. 

Tuy giá cao hơn vậy nhưng tôm Việt Nam vẫn được ưa chuộng hơn vì sự vượt trội về chất lượng. Sở dĩ tôm Việt Nam sẵn sàng khẳng định điều này vì chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn khá nhiều so với các đối thủ do nông dân đầu tư rất nhiều. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chi phí sản xuất tôm tại Việt Nam dao động từ 3,5 – 4,2 USD/kg, trong khi chi phí sản xuất tôm tại Ấn Độ và Ecuador chỉ khoảng 2,7-3 USD/kg và 2,2 – 2,4 USD/kg.

Tuy được ưa chuộng là vậy nhưng Việt Nam vẫn đang tính đến những phương án để tăng cường sức cạnh tranh để giữ vững thị phần. Đầu tiên là tăng tỉ lệ nuôi tôm thành công. Hàng loạt các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đẩy mạnh đầu tư phát triển con giống, công nghệ nhằm giúp nông dân tăng tỉ lệ nuôi con giống thành công. Tỉnh Cà Mau, tỉnh nuôi tôm lớn nhất cả nước với diện tích 300 ngàn ha cam kết hình thành 5 vùng nuôi tôm siêu thâm canh với diện tích 500 ha. Ngành tôm tỉnh Cà Mau tiếp tục là ngành sản xuất chính để tạo sản phẩm, giá trị, kim ngạch xuất khẩu trong ngành thủy sản, là trung tâm chế biến tôm của thế giới và trong nước với kim ngạch xuất khẩu trên 6 tỷ USD/năm.

Cá tra Việt Nam chiếm tới 50% sản lượng toàn cầu nhưng vẫn cạnh tranh với Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh. Tuy nhiên kích cỡ cá tra của Ấn Độ khá nhỏ nên chủ yếu tiêu dùng trong nước, còn Indonesia chủ yếu đẩy mạnh sang Trung Đông do sản lượng không cao. Do đó, Việt Nam hoàn toàn thống trị thị trường ở mảng này ở cả chất lượng, sản lượng và giá.

Kết luận

Quy mô thị trường hải sản toàn cầu là 358,68 tỷ đô la Mỹ vào năm 2023 và dự kiến ​​sẽ tăng từ 386,73 tỷ đô la Mỹ vào năm 2024 lên 837,17 tỷ đô la Mỹ vào năm 2032, thể hiện tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 10,14% trong giai đoạn 2024-2032. Châu Á – Thái Bình Dương thống trị thị trường hải sản với thị phần là 43,66% vào năm 2023. Nhu cầu này tăng mạnh từ các động vật giáp xác và cá, vốn là thế mạnh của Việt Nam đặc biệt là tôm. 

Ngoài ra, Việt Nam còn kí kết đến 19 hiệp định thương mại tự do toàn cầu. Các hiệp định này mang 2 yếu tố có lợi chính, thứ nhất là đưa thuế xuất khẩu hải sản Việt Nam về 0% theo lộ trình, thứ hai là giúp nông dân Việt Nam được tiếp cận gần hơn với nguồn vốn và công nghệ từ các nước phát triển, nhằm đảm bảo tăng chất lượng nuôi trồng cũng như cải thiện hơn nữa môi trường nuôi để phát triển nghành hải sản bền vững. 

Theo dõi VnCommEx để cập nhật những kiến thức và thông tin xuất khẩu mới nhất!

Về chúng tôi

Vietnam Commodity Export (VCE) cung cấp thông tin toàn diện và chuyên sâu về thị trường tìm nguồn cung ứng của Việt Nam, hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm khách hàng nước ngoài.

Picture of Báo cáo thị trường XNK
Báo cáo thị trường XNK

Báo cáo XNK thị trường cà phê, điều, macca và trái cây... Xu hướng chính, dữ liệu thương mại và dự báo cho các nhà xuất khẩu Việt Nam.

Xem thêm

Đăng ký nhận bản tin

Đăng ký để nhận tin tức cập nhật hàng tuần của VCE, các ấn phẩm kinh doanh mới nhất của chúng tôi